Chương III: Vâng lời Bác dạy, làm nghìn việc tốt, chống Mỹ, cứu nước, thiếu niên sẵn sàng

Với chiến thắng lịch sử của quân và dân ta đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ (Điện Biên), ngày 20-7-1954, Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở bán đảo Đông Dương được ký kết. Tổ quốc Việt Nam tạm thời bị chia làm hai miền. Miền Bắc, hoàn toàn được giải phóng.

Miền Nam, từ vĩ tuyến 17 trở vào, với con sông Bến Hải (Quảng Trị) làm giới tuyến; cuộc đấu tranh của nhân dân ta với chủ nghĩa đế quốc xâm lược và bè lũ tay sai phản dân hại nước, vẫn phải trải qua nhiều hi sinh gian khổ trong đó có sự hi sinh của không ít thiếu niên, nhi đồng trên con đường đi đến giành thắng lợi trọn vẹn.

Ngày 10-10-1954, Trung đoàn Thủ đô, từng chặn bước tiến của quân viễn chinh Pháp tại 36 phố phường Hà Nội mùa Đông năm 1946, cùng đoàn quân chiến thắng tiến về Hà Nội trong niềm hân hoan của nhân dân, của hàng vạn thiếu nhi Thủ đô bao năm khát khao chờ đợi. Lần lượt các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Hồng được giải phóng và ngày 13 tháng 5 năm 1955, sau khi tên lính thực dân Pháp cuối cùng rút khỏi thành phố Hải Phòng, miền Bắc Việt Nam hoàn toàn sạch bóng quân xâm lược. Nhân dân các địa phương miền Bắc phấn khởi, náo nức bắt tay vào hàn gắn vết thương chiến tranh, ổn định cuộc sống.

Nhưng hậu quả chiến tranh và chế độ chiếm đóng của thực dân xâm lược Pháp để lại cho nhân dân ta, cho nền kinh tế - xã hội của nước ta là hết sức nặng nề. Đồng ruộng hoang hóa, xóm làng xơ xác. Một số địa phương có đông đồng bào theo đạo Thiên chúa, khi rút đi, kẻ địch đã cưỡng ép bắt đồng bào theo chúng vào Nam, bỏ lại quê hương ruộng vườn. Cùng chung số phận với cha anh, hàng chục vạn trẻ em trong các vùng bị tạm chiếm phải sống trong cảnh nghèo đói, bệnh tật, mù chữ. Hàng vạn trẻ em ở thành phố, thị xã sống bụi đời ở nhà ga, bến xe, sa vào các tệ nạn xã hội.

Quê hương được giải phóng, ngày 1-11-1954, cùng với học sinh ở các vùng tự do trong kháng chiến, hàng vạn thiếu niên, nhi đồng ở Thủ đô Hà Nội cũng như ở nhiều địa phương bị địch chiếm đóng trước đây đã nô nức đến trường khai giảng năm học đầu tiên. Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, trường học ngày càng được mở mang thêm, cơ hội được cắp sách đến trường của các em ngày một tăng lên đáng kể.

Trong ngày khai giảng năm học mới, tại Thủ đô Hà Nội 51.260 con em nhân dân các quận nội, ngoại thành đã dự lễ tựu trường đầu tiên sau ngày hòa bình lập lại trong không khí nô nức, vui tươi dưới rừng hoa và cờ. Chỉ sau đó chưa đầy một tháng, ngày 18-12-1954, Bác Hồ kính yêu cùng các đồng chí lãnh đạo thành phố đã đến thăm thầy cô giáo và học sinh các trường Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Trưng Vương. Người ân cần căn dặn: "Học để phụng sự cho ai? Để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh".

Lời căn dặn của Bác trở thành phương hướng phấn đấu rèn luyện của thanh niên, thiếu niên nhi đồng Thủ đô và cả nước. Phong trào thiếu nhi Thủ đô phát triển mạnh mẽ, trước hết là góp phần vào công cuộc khôi phục kinh tế, kiến thiết Thủ đô bằng nhiều hình thức thiết thực. Hàng nghìn thiếu niên tham gia làm "giáo viên diệt dốt" ngay trong các phường, các khu phố nơi mình ở và tham gia "ngày chủ nhật lao động kiến thiết Thủ đô" với tinh thần tuổi nhỏ làm việc nhỏ. Chỉ  trong vòng 7 tháng đầu năm 1955 đã có 41.962 người bao gồm các lứa tuổi đã được xoá mù chữ trong đó có sự đóng góp tích cực của thiếu niên Thủ đô.

Mùa hè năm 1956, hạn hán kéo dài nên vụ chiêm ở các xã ngoại thành lại bị đe dọa nghiêm trọng. Với khẩu hiệu "Vắt đất ra nước, thay trời làm mưa", hàng vạn thiếu niên ngoại thành đã góp phần cùng các anh chị đoàn viên, thanh niên và bà con nông dân vét nước ở hàng trăm ao hồ, hàng trăm giếng chống hạn... cứu trên 5000 mẫu lúa làm nên vụ mùa bội thu sau ngày giải phóng.

Được sống trong cảnh đất nước thanh bình, lại được cắp sách đến trường học tập, các em càng thêm tin yêu vào chế độ mới xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh việc hăng hái tham gia các công tác của xã hội, như khắc phục hậu quả chiến tranh, tham gia các cuộc đấu tranh thực hiện giảm tô và cải cách ruộng đất, đánh đổ giai cấp địa chủ phong kiến, đem lại ruộng đất cho người cày... thiếu niên, nhi đồng các địa phương ngay trong những ngày đầu mới được giải phóng, được các anh, chị đoàn viên thanh niên hướng dẫn đã tổ chức dọn dẹp vệ sinh những nơi công cộng, tham gia múa hát mừng quê hương được giải phóng. ở trong hầu khắp các thôn xóm, trên các đường phố luôn vang lên những tiếng ca hồn nhiên "Yêu hòa bình Tổ quốc chúng ta". Nhiều em còn nêu cao tinh thần cảnh giác với âm mưu phá hoại của những tên phản động do địch cài lại. ở Hải Phòng, Quảng Ninh... trong nhiều trường hợp, khi bọn phản động tụ tập, móc nối với nhau tìm cách phá hoại công cuộc xây dựng hòa bình của nhân dân ta đã bị các em thiếu nhi phát hiện, báo cho những người có trách nhiệm kịp thời ngăn chặn. Nhiều tên phản động, nhiều toán biệt kích của Mỹ và nguỵ quyền tay sai bị bắt, bị xử lý. Hàng ngàn bạn nhỏ ở ngoại thành Hà Nội đã nô nức tham gia nạo vét sông Tô Lịch lấy nước tưới lúa với phương thức: Đùn nước xuống, chuyển bùn lên bờ. Nhiều em thiếu nhi ở các địa phương tiếp bước cha anh, tích cực: "Vắt đất ra nước thay trời làm mưa", chống hạn.

Đặc biệt ở hầu khắp các địa phương, phần lớn các em thiếu niên, nhi đồng đều sẵn sàng tham gia vào tổ chức Đội. Tại Hà Nội, lễ thành lập Đội được mở đầu ở trường Chu Văn An ngày 25-12-1954. Tiếp đó là tổ chức Đội được thành lập ở trường Nguyễn Du (ngày 26-12-1954) và ở các cơ sở khác. ở Quảng Ninh trong khi tổ chức Đoàn chưa được phát triển, nhiều cơ sở mới chỉ có ban đại diện thanh niên, thì ở các đường phố, các khu dân cư như: Cây Tháp (phường Bạch Đằng hiện nay), phố Đốc Học, phố Chợ, phố Mới, phố Ba Đèo, Lán Đạo, Bến Tầu, Cọc Năm... đã thành lập được tổ chức Đội Thiếu niên Tháng Tám, có nhiều hoạt động sôi động, cuốn hút hầu hết thiếu niên, nhi đồng tại địa bàn tham gia.

ở Hải Phòng, ngay từ khi thành phố mới được tiếp quản, công tác thiếu nhi đã được tổ chức Đoàn các cấp đặc biệt quan tâm. Nhiều cán bộ Đoàn đã trực tiếp đến tận từng đường phố, từng thôn xóm, tổ chức cho thiếu niên, nhi đồng tại địa bàn tham gia các cuộc sinh hoạt tập thể, hướng dẫn các em thực hiện "5 điều yêu của Bác Hồ" (sau này được Bác bổ sung hoàn chỉnh trở thành 5 điều Bác dạy thiếu niên, nhi đồng), tổ chức cho các em vui chơi ca hát, cắm trại, rèn luyện thể dục thể thao. Cũng ngay trong những ngày đầu mới được giải phóng, tổ chức Đội Thiếu niên Tiền phong, Đội Nhi đồng Tháng Tám đã được thành lập nhiều nơi ở Hải Phòng và ở Kiến An (lúc này chưa sáp nhập với thành phố Hải Phòng). Đội Thiếu niên đầu tiên của thành phố được thành lập ở khu lao động Tam Bạc. Tiếp đó các Đội Thiếu niên, Đội Nhi đồng ra đời ở Cầu Đất, Cầu Niệm, An Dương và ở hầu khắp các nơi khác trong thành phố. Nhiều hoạt động phù hợp với tâm lý lứa tuổi các em thiếu niên, nhi đồng được các anh, chị thanh niên hướng dẫn tổ chức đã có sức cuốn hút các em đến với các hoạt động tập thể vui tươi, lành mạnh. Phong trào "Kế hoạch nhỏ", "Trần Quốc Toản"..., từng bước được đưa vào những nội dung, hình thức hoạt động phù hợp, có ý nghĩa giáo dục nhiều mặt.

Cũng ở thời điểm này thiếu niên Việt Nam đã được nhận những món quà đầy tình nghĩa của thiếu niên Cộng hòa Dân chủ Đức. Đây chính là biểu hiện đầu tiên của tinh thần quốc tế trong phong trào thiếu nhi.
Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ hai họp từ ngày 25-10 đến ngày 4-11-1956 tại Thủ đô Hà Nội, được sự đồng ý của Ban Bí thư Trung ương Đảng, cùng với việc đổi tên Đoàn Thanh niên Cứu quốc thành Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam cũng đã quyết định đổi tên Đội Thiếu nhi Tháng Tám thành Đội Thiếu niên Tiền phong Việt Nam, thống nhất cho cả 2 lứa tuổi, thiếu niên và nhi đồng Đại hội đã ra Nghị quyết về công tác thiếu niên, nhi đồng, khẳng định vai trò và trách nhiệm của tổ chức Đoàn đối với thế hệ thanh niên tương lai, coi đó là lực lượng quan trọng, là nguồn lực bổ sung cho đội ngũ của Đoàn. Sự trưởng thành của thiếu niên, nhi đồng là đảm bảo vững chắc, góp phần củng cố và phát triển tổ chức Đoàn ngày càng vững mạnh. Đại hội đã quyết định trao cho tổ chức Đội Thiếu niên Tiền phong Việt Nam khẩu hiệu: "Vì sự nghiệp xã hội chủ nghĩa và thống nhất Tổ quốc, "sẵn sàng"!". Trao cho tổ chức Đội khẩu hiệu này, Đảng và Đoàn đã đặt trọn niềm tin vào lớp tuổi nhỏ được Đảng và Bác Hồ kính yêu dày công giáo dục, rèn luyện trở thành những con người mới phát triển toàn diện, đủ sức làm tròn sứ mệnh lịch sử, xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tham gia góp phần đấu tranh giải phóng miền Nam giành thống nhất nước nhà.

Năm 1956, cũng là năm các trường học ở miền Bắc bắt đầu xây dựng nhà trường xã hội chủ nghĩa, đồng thời với việc mở rộng xây dựng và phát triển Đội Thiếu niên Tiền phong. Nhiều địa phương đã thí điểm việc tổ chức Đội theo cơ sở trường học, nhằm phát huy tác dụng chính trị của tổ chức Đội đối với nhiệm vụ học tập và giáo dục toàn diện, tạo điều kiện để các em "học tốt", góp phần xây dựng nhà trường xã hội chủ nghĩa.

Được học tập dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, có sự dạy dỗ của các thầy, cô giáo và sự dìu dắt của Đoàn, nhiều lớp thiếu niên, nhi đồng đã trưởng thành nhanh chóng, trở thành con ngoan trò giỏi, góp phần công sức đáng kể trong việc đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế-xã hội của các địa phương. Những năm khắc phục hậu quả chiến tranh, phần lớn các địa phương đều đẩy mạnh khai hoang phục hóa, nhanh chóng ổn định sản xuất và đời sống, nhiều em thiếu nhi bên cạnh việc tích cực giúp đỡ gia đình, đã tự tìm kiếm những nơi người lớn chưa làm đến phát hoang, gieo trồng các loại cây ngắn ngày. Các em cũng là những người tích cực tham gia hưởng ứng các phong trào của Đoàn với những việc làm cụ thể. Khi tổ chức Đoàn các địa phương đẩy mạnh phong trào cải tiến kỹ thuật, làm các công cụ cải tiến, như sử dụng cày 51 thay cày chìa vôi, làm xe cải tiến để giải phóng đôi vai, làm cào cỏ Nghệ An... nhiều em thiếu nhi đã tham gia thu gom gỗ, sắt để các anh chị thanh niên làm nguyên liệu.

Thực hiện khẩu hiệu "Sạch làng tốt ruộng" trong phong trào làm phân bón, các em có phong trào "Đi bò vàng về bò xanh", tức là khi đi chăn bò, chăn trâu các em không những chăm sóc trâu, bò béo khỏe, mà còn tranh thủ cắt thêm lá, nhờ sức trâu bò chở về để có thêm nguyên liệu làm phân xanh. Thiếu nhi tỉnh Sơn Tây (nay thuộc Hà Tây) hưởng ứng tháng thi đua "Phất cao cờ Tháng Tám" của Đoàn, đã nêu khẩu hiệu "Em chăm cho hố phân đầy", để thu gom các nguồn phân rơi vãi. Em Phan Văn Sang ở thôn Cổ Đô, xã Tân Lập là người tích cực hưởng ứng phong trào, thường xuyên mang theo quang sọt bên người, hễ gặp phân rơi vãi em đều thu gom vào gánh, đảm bảo đường thôn, ngõ xóm lúc nào cũng được sạch, trong khi hố phân của em đầy lên nhanh chóng. Sang đã được Báo Sơn Tây, cơ quan của Đảng bộ địa phương, nêu gương tốt và được Bác Hồ tặng huy hiệu của Người. Cùng có vinh dự được nhận phần thưởng của Bác Hồ về thành tích làm phân bón thời kỳ này có em Trần Danh, một thiếu niên có tinh thần chịu khó và chủ động trong mọi việc giúp đỡ gia đình cũng như tham gia công tác xã hội.

Trong phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, đưa nông dân và nông thôn các tỉnh, thành phố miền Bắc đi vào con đường làm ăn tập thể, thiếu niên, nhi đồng các địa phương không những là lực lượng đông đảo tham gia tuyên truyền, vận động gia đình và bà con trong thôn xóm, với nhiều hình thức như tổ chức các buổi cổ động, phát loa truyền thanh, kẻ vẽ khẩu hiệu tuyên truyền... Các em còn có sáng kiến tổ chức các hợp tác xã Măng non, vừa tạo điều kiện đóng góp phần công sức phù hợp với lứa tuổi cho các hợp tác xã sản xuất, vừa là việc làm có ý nghĩa giáo dục nhiều mặt đối với chính các em về tính tập thể, về ý thức lao động... Thiếu niên xã Thạch Khôi (Hải Dương) là nơi khởi xướng phong trào xây dựng hợp tác xã Măng non và được thiếu nhi khắp các địa phương miền Bắc hưởng ứng sôi nổi. Liên đội Vân Phi (Sơn Tây), liên đội Duy Viên (Vĩnh Linh, ngày nay thuộc tỉnh Quảng Trị) và nhiều liên đội khác đã nhanh chóng thành lập các hợp tác xã Măng non, với nhiều hoạt động cụ thể, thiết thực. Trong đó nổi bật là phong trào chăm sóc trâu bò béo khỏe. Trong nhiều năm hợp tác xã Măng non Phú Mẫn (Bắc Ninh) là điển hình tiêu biểu của phong trào thi đua chăm sóc trâu bò béo khỏe và tháng 5 năm 1969, hợp tác xã Măng non của các em đã vinh dự được Bác Hồ gửi thư khen. Trong phong trào chăm sóc trâu bò béo khỏe, thiếu nhi xã Thắng Lợi (huyện Duy Tiên, Hà Nam), còn có sáng kiến làm gối cho trâu bò nghỉ và làm vệ sinh chuồng trại hàng ngày.

Năm 1958, theo sáng kiến của thiếu nhi tỉnh Sơn Tây và thành phố Hải Phòng, thiếu nhi các tỉnh và thành phố trên miền Bắc đã sôi nổi đẩy mạnh phong trào làm "Kế hoạch nhỏ". Ngày 2-12-1958, bác Tôn Đức Thắng, Chủ tịch ủy ban Thường vụ Quốc hội viết thư hoan nghênh sáng kiến đó của các em và cho phép mở rộng phong trào trong tất cả các đối tượng thiếu niên, nhi đồng ở tất cả các địa phương. Phong trào "Kế hoạch nhỏ" nhanh chóng cuốn hút các em thiếu niên, nhi đồng các địa phương sôi nổi tổ chức chăn nuôi, sản xuất, tiết kiệm, thu nhặt phế liệu... lấy tiền góp chung xây dựng Nhà máy Nhựa Thiếu niên Tiền phong đặt tại Hải Phòng. Một trong những hoạt động nổi bật của thiếu nhi cả nước thời kỳ này là việc thực hiện phong trào "Kế hoạch nhỏ" tham gia xây dựng Nhà máy Nhựa Thiếu niên Tiền phong. Nhà máy được khởi công xây dựng từ cuối năm 1958. Thiếu nhi Hải Phòng bên cạnh việc thực hiện kế hoạch nhỏ, thu gom phế liệu, chăn nuôi gà... bán lấy tiền góp vào xây dựng nhà máy, đã đóng góp hàng vạn lượt ngày công trực tiếp tham gia lao động trên công trường xây dựng nhà máy. Các em đã tham gia đẩy xe chở đất, chở gạch giúp các chú công nhân; dọn dẹp mặt bằng, làm các công việc phục vụ công tác thi công, hỗ trợ các cô, các chú công nhân trong các khâu đánh vữa, khuân vác giàn giáo... góp phần nhanh chóng đưa nhà máy đi vào sản xuất, làm ra nhiều sản phẩm phục vụ cho thiếu nhi như đồ chơi, đồ dùng học tập, giày dép, dụng cụ thể thao...

Và ngày 17-5-1960, Nhà máy Nhựa Thiếu niên Tiền phong đã đi vào hoạt động, đoàn đại biểu thiếu nhi miền Bắc dự lễ khánh thành đã nhận được 18.000 đồ chơi các loại - những sản phẩm đầu tiên do nhà máy làm ra, để trao tặng thiếu nhi miền Nam đang phải sống dưới ách thống trị của Mỹ và nguỵ quyền tay sai.

Được sự hướng dẫn, giúp đỡ của các anh, chị phụ trách, thiếu niên, nhi đồng ở các địa phương còn tham gia làm nhiều việc tốt, tuỳ theo lứa tuổi và hoàn cảnh của mình, như tham gia hoạt động văn hóa văn nghệ, tập luyện thể dục thể thao... Trong phong trào bình dân học vụ, thanh toán nạn mù chữ, thiếu niên, nhi đồng cũng là một lực lượng đóng góp phần công sức đáng kể trong vận động người đi học, làm các "thầy cô giáo nhỏ", hướng dẫn bạn mình, giúp đỡ bố mẹ, anh chị và nhiều người lớn xung quanh thanh toán nạn mù chữ và học bổ túc văn hóa. Em Nguyễn Văn Tống (Hà Đông - nay thuộc tỉnh Hà Tây), là một thiếu niên ham học đồng thời em cũng thường xuyên quan tâm giúp đỡ người khác học chữ. Nhiều hôm đêm tối, Tống vẫn không quản ngại đường thôn vắng vẻ, tận tình đến từng nhà động viên bà con đi học. Nhiều người do lớn tuổi, tiếp thu chậm, Tống vẫn kiên trì chỉ dẫn tập viết từng chữ, ghép từng vần. Với thành tích tham gia diệt dốt, Nguyễn Văn Tống đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba.

Cùng thời điểm trên, nhiều em thiếu niên, nhi đồng ở các tỉnh miền Nam, từ vĩ tuyến 17 trở vào đã được tập kết ra miền Bắc theo ba má, hoặc do ba má phải ở lại miền Nam công tác, được Đảng, Nhà nước cho ra miền Bắc học tập. Để đảm bảo cho các em được tham gia các hoạt động tập thể, được học tập và vui chơi thoải mái như mọi thiếu niên, nhi đồng tại các địa phương, tổ chức Đoàn Thanh niên các cấp đã có nhiều hình thức thích hợp, tạo điều kiện để thiếu nhi hai miền Nam - Bắc có mối quan hệ đoàn kết gắn bó trong học tập, trong vui chơi, làm cho các em thiếu niên, nhi đồng miền Nam cảm thấy như được sống ở nhà mình, ở quê hương miền Nam của mình. Nhiều tỉnh ở miền Bắc lúc này có trường học sinh miền Nam với hàng ngàn học sinh theo học, bên cạnh việc tổ chức Hiệu đoàn học sinh với các hoạt động sôi nổi được tổ chức chặt chẽ đến từng lớp học, Đoàn Thanh niên, Đội Thiếu niên đã thành lập Ban Chấp hành học sinh, một tổ chức đại diện cho học sinh trong các trường học, có tác dụng giáo dục ý thức tự chủ cho học sinh, nhằm thống nhất phong trào học sinh trong các trường học, tạo cơ hội để học sinh miền Bắc, học sinh miền Nam, học sinh Việt Nam và học sinh Hoa kiều... có dịp giao lưu, tăng cường mối quan hệ gắn bó với nhau.

Thiếu niên, nhi đồng ở các tỉnh, thành phố miền Nam tập kết ra miền Bắc học tập luôn luôn được sự quan tâm chăm sóc đặc biệt của Đảng, của Bác Hồ kính yêu. Mặc dù bận trăm công nghìn việc, nhưng Bác Hồ vẫn luôn dành cho các em những tình cảm hết sức trìu mến. Bác đã nhiều lần đến thăm, động viên học sinh miền Nam tập kết ở nhiều trường. Ngày 28-9-1957, Bác gặp thiếu nhi miền Nam ở Câu lạc bộ Lao động (Hà Nội); ngày 28-9-1958, Bác đến thăm trường Nhi đồng miền Nam ở Hải Phòng; ngày 18 -1-1960, Bác đến thăm trường Học sinh miền Nam số 12 ở Hải Phòng; ngày 2-2-1960, Bác thăm trại Thiếu nhi miền Nam tại Hà Nội...

Bác thường xuyên căn dặn thiếu nhi và các anh chị phụ trách miền Nam tập kết ra miền Bắc học tập và sinh hoạt:

"Trong thời gian ở đây, gần Đảng, gần Chính phủ, gần Bác, các cháu và các cô, các chú nên hăng hái học tập và công tác, sao cho đến ngày nước nhà thống nhất trở lại quê hương, các cháu và các cô, các chú đều là những người gương mẫu về tư tưởng, đạo đức, cũng như về mọi mặt khác".

*
*   *

ở các tỉnh miền Nam, sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, không khí hòa bình đã bao trùm lên hầu khắp các xóm làng, các thành phố. Thiếu niên, nhi đồng các địa phương đã cùng bà con, cô bác tổ chức ca múa mừng thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm. Nhiều nơi các em thiếu nhi đã cùng các anh, chị thanh niên tổ chức ca múa suốt đêm, bày tỏ niềm vui sướng và khát vọng được sống trong cảnh hòa bình yên vui. Đồng thời ở nhiều địa phương, dưới sự hướng dẫn của tổ chức Đảng và chính quyền cách mạng, cùng với bà con nhân dân, các em thiếu niên, nhi đồng cũng được các anh, chị phụ trách phổ biến sâu rộng tinh thần ý nghĩa của Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Việt Nam, về ý nghĩa thắng lợi của cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp. Nhiều địa phương còn chuẩn bị lý lẽ cho các em để sau này khi gặp địch phá hoại Hiệp định Giơnevơ, các em có thể đấu tranh với chúng phù hợp với từng tình huống cụ thể. Những thiếu niên nhi đồng được đi tập kết ra miền Bắc, trong đó có nhiều em phải xa gia đình, xa bố mẹ, anh em, đều sẵn sàng lên đường.

Mặc dù thời gian được sống trong điều kiện hòa bình không bao lâu, nhưng hầu hết thiếu niên và nhi đồng các tỉnh miền Nam thời kỳ này đều được sự quan tâm giáo dục trên nhiều mặt. Hình thức phổ biến để tập hợp các em là vận động các nhân sĩ trí thức tiến bộ mở các trường tư thục làm cơ sở để thông qua các bài học về địa lý lịch sử, luân lý... truyền thụ cho các em những kiến thức về quá trình dựng nước và giữ nước trong suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm của ông cha; về đất nước tươi đẹp; về truyền thống cần cù, dũng cảm của nhân dân... làm cho các em hiểu và thêm yêu mến Tổ quốc, có ý thức gìn giữ mảnh đất mình đang sống. Nhiều trường công và trường tư có xu hướng tiến bộ, như trường Văn Lương (thị trấn Long Đất, tỉnh Bà Rịa), trường Huỳnh Khương Ninh (Sài Gòn), trường Diên Hồng (thị xã Quảng Ngãi) đã sử dụng các giáo trình tiến bộ để giảng dạy các em tinh thần yêu nước, thương nòi... Thông qua những chiến công chống giặc ngoại xâm của các anh hùng, nghĩa sĩ của dân tộc, như Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lê Hoàn, Lý Thần Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Quốc Toản, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung... các thầy giáo, cô giáo có tâm huyết đã truyền cho các em lòng tự hào và tự tôn dân tộc. Nhiều trường còn tổ chức cho các em đi tham quan các danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử, văn hóa... làm cho các em thêm yêu quí đất nước quê hương; dạy các em thương yêu ông bà, cha mẹ, anh chị em, biết giúp đỡ bà con làng xóm, bè bạn; biết quí trọng những gì thế hệ đi trước đã giành lại được...

Sau khi Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình trên bán đảo Đông Dương được ký kết, nhất là sau khi tìm cách hất được chân Pháp, độc chiếm miền Nam Việt Nam, đưa tên độc tài Ngô Đình Diệm lên làm tay sai cho chúng, đế quốc Mỹ đã bằng mọi giá thôn tính miền Nam Việt Nam bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Trong đó trên lĩnh vực "văn hoá, tư tưởng và giáo dục" đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm thực hiện dã tâm "bôi đen bọn trẻ để cộng sản không nhuộm đỏ lại được". Chúng cho rằng "Văn hóa, tư tưởng, giáo dục là một lĩnh vực đặc thù mà kết quả của nó có tính chất quyết định cho cuộc đọ sức... Đây là cuộc chiến tranh ý thức hệ chống lại ý thức hệ, chiến tranh lý tưởng đối đầu lý tưởng" (thông điệp của Ngô Đình Diệm gửi bọn tay chân các cấp).

Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đã bằng mọi cách, vừa lừa mị, dụ dỗ, mua chuộc, vừa thẳng tay đàn áp, khủng bố, kìm kẹp, đầu độc thanh, thiếu niên với các chiêu bài "Độc lập", "Quốc gia", "Tự do dân chủ"; với triết lý duy tâm "nhân vị, duy linh"; xuyên tạc lịch sử, làm cho các em nhầm lẫn giữa các anh hùng dân tộc có công cứu nước với bọn bán nước cầu vinh; nhồi nhét tâm lý tự ti trước sức mạnh quân sự, kinh tế, khoa học kỹ thuật của Mỹ, làm cho thanh, thiếu nhi từ sợ Mỹ đi đến phục Mỹ, đi đôi với truỵ lạc hoá về lối sống, khuyến khích trào lưu CCTY (cho tình yêu, cướp tình yêu) làm cho thanh, thiếu niên chìm đắm trong xì ke, ma tuý, truỵ lạc... sống buông thả, bi quan, thất vọng và cuối cùng cam tâm làm tay sai cho chúng để được thỏa mãn những dục vọng thấp hèn.

Chúng coi nhà trường là nơi đào tạo, rèn luyện nên một tầng lớp trí thức trẻ chỉ biết chạy theo đồng tiền, là nơi dự trữ thanh, thiếu niên cho việc đôn quân bắt lính, biến họ thành những sĩ quan tương lai trung thành với những lợi ích quốc gia của Mỹ, sống lệ thuộc vào Mỹ. Do đó  số lượng cố vấn giáo dục đã không ngừng tăng lên. Năm 1954, Mỹ mới đưa vào miền Nam Việt Nam 54 cố vấn giáo dục, đến năm 1965 con số đó đã tăng lên 1.700 người và năm 1975 lên tới con số 2.400 người.

Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai còn coi trọng việc đoàn ngũ hóa thiếu nhi. Chúng không từ cả thủ đoạn úp bộ, bắt thiếu nhi vào các tổ chức phản động để dễ bề kiểm soát, lôi kéo và kìm kẹp các em, như tổ chức thiếu nhi cộng hòa (thời kỳ 1955-1960); Thiếu nhi phòng vệ dân sự, Thiếu nhi Phượng hoàng, Thiếu nhi tự báo, Thiếu nhi trừ gian, Thiếu nhi Văn tác vụ... Chúng thường tổ chức các hội trại, duyệt đoàn, đồng phục...  đánh vào tâm lý hiếu kỳ, ưa hoạt động của các em, ngày càng đưa các em xa dần ảnh hưởng của cách mạng. Trong quân đội nguỵ, chúng còn bố trí mỗi trung đoàn 1 sĩ quan cấp trung úy phụ trách công tác thiếu nhi, các binh chủng đều có trường thiếu sinh quân, có đoàn hướng đạo quân đội. ở cấp tiểu học chúng thực hiện hàng đội tự trị; ở cấp trung học có chương trình phát triển sinh hoạt học đường; ở nông thôn chúng tổ chức thiếu nông 4T (gồm: Trí óc sáng suốt, Tấm lòng thành thực, Tay chân cứng rắn và Thân thể tráng kiện) tập hợp tất cả thanh, thiếu niên từ 12 đến 20 tuổi, lấy biểu tượng là 4 lá me trên nền trắng, 4 chữ T thích trên cánh tay...

Trong điều kiện đế quốc Mỹ và nguỵ quyền tay sai ra sức đầu độc, lôi kéo thiếu niên, nhi đồng, việc nhiều trường học tranh thủ đưa các chương trình tiến bộ giảng dạy cho học sinh đã góp phần đáng kể làm cho phần lớn các tầng lớp thanh, thiếu nhi miền Nam dù phải sống trong chế độ đen tối của Mỹ - nguỵ vẫn không bị vấy bùn, vẫn kiên trung bất khuất, tiếp nối truyền thống ngàn năm của tổ tiên. Trong nhiều trường hợp thiếu nhi miền Nam thời kỳ này đã lợi dụng ngay các tổ chức do địch lập ra để chống lại chúng, dùng ngay tổ chức của chúng lập ra để che mắt chúng, bảo vệ cán bộ cách mạng, đặc biệt trong những lúc cách mạng gặp khó khăn, kẻ địch khủng bố gắt gao, cơ sở gần như bị mất trắng, như trong các năm 1955-1958 và giai đoạn 1970-1972.

Những năm đầu thực hiện Hiệp định Giơnevơ, các lực lượng vũ trang của ta chuyển quân tập kết ra miền Bắc. Từ hoạt động công khai, Đảng ta chuyển sang hoạt động bí mật. Tổ chức Đoàn, tổ chức Đội không còn. Phần lớn những đoàn viên còn ở lại tiếp tục cuộc đấu tranh đều hoạt động đơn tuyến, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của những đảng viên tại địa bàn. Thậm chí có thời kỳ bị địch khủng bố trắng, trong số đảng viên ấy, người thì bị địch giết hại, người được điều lánh đi nơi khác, nhiều đoàn viên thanh niên phải làm nhiệm vụ như một đảng viên... Nhưng dưới sự chỉ đạo của Đảng, dù trong hoàn cảnh khốc liệt, nhiều đoàn viên thanh niên và thiếu nhi vẫn kiên cường bám trụ, đấu tranh chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn tìm cách "bôi đen" thiếu niên, nhi đồng của địch. Được Đảng giao phụ trách thiếu niên, nhi đồng, nhiều đoàn viên và thanh niên đã tìm mọi cơ hội hướng dẫn các em thiếu niên, nhi đồng tham gia các phong trào của nhân dân, như phong trào "Bảo vệ hòa bình" của nhân dân Sài Gòn do luật sư Nguyễn Hữu Thọ, giáo sư Phạm Huy Thông, và Nguyễn Văn Dưỡng lãnh đạo; cùng cha mẹ, anh chị xuống đường "ăn mừng hòa bình" ở Huế, ở Tây Nguyên; tham gia phong trào "Tuần lễ hòa bình" của nhân dân các tỉnh Trung Trung Bộ. ở nhiều địa phương, thiếu nhi còn thành lập các đội văn nghệ đi lưu diễn các nơi tuyên truyền lòng yêu nước, yêu hòa bình tới đông đảo quần chúng nhân dân. Các em thường biểu diễn những vở kịch lịch sử, hát những bài hát truyền thống như Chi Lăng, Bạch Đằng Giang... được đông đảo nhân dân hưởng ứng nhiệt liệt.

Trường tư thục Văn Lương ở thị trấn Long Đất, tỉnh Bà Rịa là một trong những trường do ta tổ chức, đã có những hoạt động khá mạnh. Đội văn nghệ của trường đến các địa phương trình diễn đều được bà con cô bác quí mến, thương yêu đùm bọc. Các tiết mục biểu diễn của Đội như "Một thế kỷ mấy vần thơ", kể lại tội ác của giặc Pháp xâm lược, thống trị nước ta suốt gần một thế kỷ; "Tiếng hát trên dòng sông Cửu Long" là tiếng ca của một em bé lái đò nghèo, trước cảnh quê hương bị tàn phá, gia đình bị lìa tan, mong ước đến ngày Nam Bắc thống nhất để xây dựng quê hương; "Tấm lòng vàng" là vở kịch nói kể chuyện một em bé nghèo, gia  đình bị hỏa hoạn trong trận chiến tiêu diệt lẫn nhau giữa phe phái Ngô Đình Diệm và Bình Xuyên, em phải bỏ học để đi gánh nước mướn giúp đỡ gia đình, nhưng em được thầy, cô giáo, các bạn và bà con cô bác giúp đỡ để em lại được cắp sách đến trường; "Mừng hòa bình, yêu hòa bình" là bài hát ca ngợi làng quê được giải phóng... đã gây xúc động mạnh trong các tầng lớp nhân dân. Nhiều địa phương đã mời Đội đến biểu diễn.

Các hoạt động văn nghệ cách mạng của thiếu niên, nhi đồng miền Nam những ngày đầu thi hành Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Việt Nam không những cổ vũ tinh thần của nhân dân trong cuộc đấu tranh với các thế lực thù địch mới, mà nhiều khi các em còn lợi dụng cơ hội để hạ uy thế của chúng, như trường hợp các Đội văn nghệ Vĩnh Thuận, Vĩnh Phong (huyện Gò Quao, tỉnh Rạch Giá) đã lợi dụng tình thế khi Ngô Đình Diệm đến dự lễ khánh thành khu trù mật An Phước được lên biểu diễn chào mừng đã hát vang các bài ca từ thời kháng chiến chống Pháp, như "Mừng hòa bình", "Tiểu đoàn 307", "Chúc thọ Bác Hồ"... làm Ngô Đình Diệm tím cả mặt. Tuy không làm gì được, nhưng trước khi lên máy bay chuồn đi, Diệm cũng cố nói vớt vát: "Hôm nay các cháu làm vậy thì được, nhưng từ nay về sau không được ca múa như vậy nữa"... Còn nhân dân thì ai cũng thấy hả lòng. Tiếng đồn cứ vang đi xa mãi trong nhân dân các tỉnh miền Tây Nam Bộ và đến các vùng, miền khác.

Những năm 1956-1957 địch khủng bố gắt gao những người kháng chiến cũ. Chúng mở các chiến dịch tố cộng, diệt cộng tràn lan, chúng ra sức bắt bớ, giết hại nhân dân kể cả nhiều thầy giáo, cô giáo. Nhiều lớp học bị tan, nhất là ở các vùng nông thôn, ở vùng sâu; không có trường học, các em thiếu niên, nhi đồng phải chịu thất học. Lúc đầu một số đoàn viên, thanh niên đã tổ chức các lớp học bình dân học vụ dạy các em. Về sau địch o ép, khủng bố mạnh, các lớp bình dân học vụ cũng không thể tiếp tục duy trì. Nhưng ở nhiều nơi thầy và trò vẫn không chịu bó tay. Thời kỳ này một số địa phương ở vùng U Minh Thượng, U Minh Hạ, nhiều đoàn viên, thanh niên bị lộ không thể sinh sống trong các ấp đã rủ nhau vào rừng lập các "làng rừng", có nơi còn gọi đó là "làng xã hội chủ nghĩa" làm căn cứ, vừa sản xuất, vừa bố phòng chống địch càn quét, đồng thời dạy nhau học văn hóa. Cũng ở tại các làng rừng, khi có một số em thiếu niên vào theo, các anh, chị thanh niên đã tổ chức cho các em học văn hóa, thu hút cả các em trong các ấp gần đó đến học. Qua đó dạy các em tinh thần yêu nước, căm thù giặc Mỹ xâm lược.

ở nhiều tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, khi tìm cách bắt mối với nhân dân, các cán bộ cách mạnh của Đảng đều dựa vào các em. Trước hết họ gặp các em, kể cho các em nghe chuyện về Bác Hồ, dạy các em học văn hóa, học hát, rồi chỉ cho các em về liên lạc với cơ sở. ở vùng rừng Nhum (Tây Ninh) khi các em vào rừng tìm lá chằm nón hay ở các vùng Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa... các em đi hái củi, đi lô mót mủ dây... các cán bộ của ta đã tổ chức cho các em học văn hóa từ một đến hai tiếng. Mỗi lớp học có từ 5 đến 7 em.

ở các tỉnh miền Tây và miền Trung Nam Bộ, nhất là vùng Đồng Tháp Mười, cũng như ở Bến Tre, nhiều kênh rạch, việc đi lại khó khăn. Trong điều kiện địch thường xuyên ruồng bố, các lớp học lưu động của thiếu niên, nhi đồng vẫn được tổ chức. Các em tổ chức học ngay trên các xuồng. Hai, ba em một xuồng chèo đến điểm hẹn dưới tán cây rừng, dừa nước... các xuồng ghép lại, lấy lòng xuồng làm bàn học, giáo viên treo bảng lên cành cây hoặc trên thân dừa. Khi có động, các xuồng phân tán nhanh, khi yên lớp học lại tiếp tục... Hết lớp này đến lớp khác được tổ chức. Nhiều em học được đến lớp 3, lớp 4. Nhờ đó sau này, như ở Bến Tre, khi các em trưởng thành đi tòng quân, thì không một thanh niên nào còn mù chữ.

Thời kỳ này, ở các tỉnh miền Nam chưa có tổ chức Đội thiếu niên. Các em hoạt động theo sự chỉ đạo trực tiếp của các cô chú đảng viên hoặc của các anh, chị đoàn viên. Các em thường được các cô, chú, các anh chị giao cho nhiệm vụ làm liên lạc, nắm tình hình bố phòng và những hoạt động ruồng bố của địch... Nhưng cũng có nhiều nơi các em tự tổ chức các hoạt động. Qua những hoạt động đó các cô, chú, các anh, chị mới biết, tìm đến gặp gỡ, hướng dẫn và uốn nắn các phương thức hoạt động chưa phù hợp, vừa đảm bảo hoạt động của các em thiết thực phục vụ nhiệm vụ của cách mạng, vừa bảo vệ được các em, không để kẻ địch lợi dụng khủng bố, xâm hại đến các em.

Sau một thời gian mị dân, nhất là sau khi đè bẹp được lực lượng các giáo phái không ăn cánh, phế truất được Bảo Đại, đưa Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống, kẻ địch bắt đầu thẳng tay đàn áp, khủng bố khốc liệt lực lượng kháng chiến của nhân dân miền Nam Việt Nam. Coi "tố cộng, diệt cộng" là quốc sách, chúng tiến hành với một phương châm cực kỳ tàn bạo; giết lầm hơn bỏ sót, triệt để giết nội tuyến, trừ nội tâm, đạp lên oán thù, kiên quyết làm cho người cộng sản phải chết hoặc phải thuần phục quốc gia, quần chúng cách mạng phải chết hoặc trở thành phản cách mạng.

Thiếu niên, nhi đồng là đối tượng kẻ địch muốn tìm mọi cách lôi kéo để phục vụ chiến lược lâu dài của chủ nghĩa thực dân mới, đồng thời cũng là đối tượng chúng tìm mọi cách lợi dụng phục vụ cho âm mưu chống phá phong trào cách mạng của nhân dân, tìm bắt, giết hại cán bộ cách mạng. Chúng tìm mọi cách dụ dỗ, mua chuộc và cả uy hiếp, dùng cực hình tra tấn bắt các em chỉ nơi cán bộ cách mạng thường ẩn nấp, lui tới, những căn cứ kháng chiến của nhân dân... Nhưng cũng chính trong những thử thách khốc liệt, khi phong trào cách mạng bị dìm trong biển máu, thiếu niên, nhi đồng miền Nam đã sát cánh cùng cha anh mình, luôn tỏ rõ phẩm chất kiên cường, bất khuất trước mọi thủ đoạn tàn bạo của kẻ thù, bảo vệ từng lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ cán bộ cách mạng.

Cuối năm 1954, ở huyện Gio Linh (Quảng Trị), khi kẻ địch xả súng bắn vào đoàn biểu tình của nhân dân các xã đấu tranh chống địch dồn dân lập vành đai trắng ở bờ Nam sông Bến Hải, đòi chúng phải nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Giơnevơ, người cầm cờ đi đầu hy sinh, em Trương Thị Con đã lập tức xông đến giương cao lá cờ Tổ quốc, dẫn đầu đoàn biểu tình tiến lên, mặc cho đạn địch đang bắn thẳng về phía em, bắn trúng cánh tay cầm cờ của em.

Tại Thừa Thiên - Huế, năm 1956, khi Mỹ - Diệm bắt dân làng xé bỏ lá cờ đỏ sao vàng của Tổ quốc, mở đầu chiến dịch "Tố cộng, diệt cộng", nhằm uy hiếp nhân dân và hạ uy thế cách mạng, một em trai đã tiến đến trước mặt tên quận trưởng đang hí hửng chờ đợi hành động xé cờ của em. Bỗng hai tay em trân trọng nâng lá cờ Tổ quốc lên hôn và bất ngờ quấn lá cờ vào quanh người mình, đồng thời chỉ thẳng vào mặt tên quận trưởng, thét to: "Các ông muốn xé lá cờ này hãy xé cả xác tôi đi!". Kẻ địch hèn hạ xả súng bắn thẳng vào em. Trước khi ngã xuống em đã hô to "Hồ Chủ tịch muôn năm".

Năm 1960, với cao trào đồng khởi, làm lay chuyển bộ máy kìm kẹp của Mỹ - Nguỵ, cách mạng miền Nam chuyển sang một giai đoạn mới đầy gian lao thử thách, nhưng cũng đầy thắng lợi vẻ vang, trong thắng lợi đó có sự góp mặt của thiếu niên, nhi đồng.

Tháng 9 năm 1960 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã xác định 2 nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ đất nước tạm thời bị chia làm hai miền là: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ trong cả nước. Những nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn cách mạng mới, đã đặt lên vai thế hệ trẻ ở cả hai miền Nam-Bắc Việt Nam sứ mệnh lịch sử hết sức vẻ vang.

Đại hội đại biểu Đoàn toàn quốc lần thứ III (tiến hành từ ngày 23 đến ngày 25-3-1961 tại Thủ đô Hà Nội) đã quyết định phát động trong thanh niên miền Bắc phong trào "Xung phong, tình nguyện vượt mức kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất" (1961-1965). Gắn bó mật thiết với các phong trào hành động của Đoàn, từ sau khi Đoàn phát động phong trào "tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất", phong trào "Kế hoạch nhỏ" của thiếu niên, nhi đồng cũng được phát triển thêm một bước, đi vào chiều sâu, vừa mang tính giáo dục cao, vừa đem lại hiệu quả thiết thực trong đấu tranh, trong lao động sản xuất và đời sống xã hội, trong học tập và rèn luyện...

*
*   *

Từ sau Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ III, cách mạng Việt Nam ở cả hai miền Nam - Bắc, với hai nhiệm vụ chiến lược được xác định, đã có những chuyển hướng mới. ở các tỉnh, thành phố miền Bắc, sau những năm khôi phục và phát triển, tình hình kinh tế - xã hội đi dần vào thế ổn định. Hầu hết người dân ở nông thôn đã đi vào con đường làm ăn tập thể. Giai cấp tư sản và tiểu chủ ở thành thị được cải tạo. Quyền làm chủ của nhân dân từng bước được thiết lập. Nhân dân phấn khởi, tin tưởng bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.

ở miền Bắc, trong điều kiện tình hình kinh tế - xã hội ổn định và phát triển, công tác Đội và phong trào thiếu nhi cũng có những chuyển hướng tích cực. Tổ chức Đoàn các cấp đặc biệt quan tâm chăm sóc, giáo dục thiếu niên, nhi đồng, tạo điều kiện để công tác Đội và phong trào thiếu nhi ngày càng gắn bó mật thiết với những nhiệm vụ cách mạng đang đặt ra, với ý thức trách nhiệm của một tổ chức quần chúng trung kiên gần Đảng, có nhiệm vụ góp phần đào tạo thế hệ tương lai của đất nước, không những cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà còn cần cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản sau này. Đối với địa bàn nông thôn rộng lớn, các cấp bộ Đoàn hướng các em đi vào những công việc thiết thực, vừa hỗ trợ tích cực bà con nông dân tập thể trong sản xuất và cải thiện đời sống, vừa góp phần rèn luyện các em trong thực tế lao động. Trong trường học, các cấp bộ Đoàn hướng các hoạt động của Đội và phong trào thiếu nhi bám sát nhiệm vụ học tập, thực hiện giáo dục toàn diện. Với lớp đội viên lớn tuổi, tổ chức Đoàn các cấp bồi dưỡng các em những hiểu biết về Đoàn, nâng cao ý thức của các em đối với tổ chức Đoàn. Nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Đoàn 26 tháng 3, hàng năm, các cấp bộ Đoàn đều hướng các hoạt động của Đội Thiếu niên theo các chủ đề "Hướng lên Đoàn", "Tiến lên đoàn viên"... chuẩn bị cho các em khi trưởng thành, gia nhập vào tổ chức Đoàn Thanh niên.

Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: "Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người". Đảng ta và Bác Hồ kính yêu đã dành những tình cảm lớn lao và sự ân cần chăm sóc, dạy bảo lớp lớp thiếu niên, nhi đồng nước ta từng bước trưởng thành, có những cống hiến xứng đáng cho sự nghiệp cách mạng. Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa III) ra Chỉ thị số 197/CT/TW, ngày 19-3-1960, nêu rõ: "Các em thiếu niên, nhi đồng ngày nay sẽ là lớp người xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Quan tâm đến thiếu niên, nhi đồng là quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng một lớp người mới không những phục vụ cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay mà còn chính là cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa cộng sản sau này... Mục đích của chúng ta là đào tạo các em thiếu nhi thành những người yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có sức khỏe, có văn hóa, hết lòng phục vụ sự nghiệp của giai cấp công nhân và nhân dân lao động". Bản Chỉ thị nhấn mạnh: "...Giáo dục thiếu niên, nhi đồng là một vấn đề không đơn giản mà là vấn đề khoa học... con em chúng ta cần được phát triển về mọi mặt: đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục và sẵn sàng phấn đấu vì "sự nghiệp xã hội chủ nghĩa và thống nhất nước nhà"; Và cho rằng "Nhiệm vụ ấy Đoàn Thanh niên Lao động và nhà trường giữ vai trò chủ yếu, nhưng riêng Đoàn và nhà trường không làm nổi, các cơ quan đoàn thể nhân dân phải cùng làm thì mới thực hiện được".

Chỉ thị 197/CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng là một văn kiện có ý nghĩa nhiều mặt đối với công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục thiếu nhi, cũng như với công tác Đội Thiếu niên, Nhi đồng đem lại cho công tác chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em và công tác Đội Thiếu niên, nhi đồng một nhận thức mới, với những việc làm và những hàng động cụ thể.

Trên cơ sở tinh thần bản Chỉ thị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã quyết định thành lập ủy ban Thiếu niên, Nhi đồng các cấp từ Trung ương đến cơ sở, để chăm lo công tác giáo dục và bảo vệ thiếu nhi.

ủy ban Thiếu niên, Nhi đồng Trung ương được thành lập do bác Tôn Đức Thắng, Phó Chủ tịch nước làm Chủ tịch danh dự. Giáo sư, viện sỹ Nguyễn Khánh Toàn, ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng - Phó Chủ nhiệm ủy ban Khoa học Nhà nước, được cử làm Chủ tịch. ủy ban gồm 33 thành viên, đại diện cho các Bộ, ngành và đoàn thể liên quan trực tiếp đến công tác thiếu niên, nhi đồng.

Thực hiện Chỉ thị của Đảng, hầu hết các cấp bộ Đoàn đều cử cán bộ chủ chốt làm Phó Chủ tịch và thường trực ủy ban Thiếu niên, Nhi đồng các cấp để giúp cấp ủy Đảng và ủy ban Thiếu niên, Nhi đồng các địa phương thường xuyên chăm lo toàn diện đến công tác thiếu nhi tạo thành nền nếp cho phong trào "Toàn dân chăm sóc thiếu nhi" phát triển về sau này.

Các ngành thành viên của ủy ban Thiếu niên, Nhi đồng Trung ương như Bộ Văn hóa, Bộ Giáo dục, Bộ Y tế, Bộ Nội thương (nay là Bộ Thương mại), Tổng cục Thể dục thể thao... đã lập kế hoạch hoạt động cụ thể cho ngành mình, nhiều địa phương đã hình thành Câu lạc bộ thiếu nhi, về sau đó là các Nhà thiếu nhi, Cung thiếu nhi... tạo điều kiện cho các em có nơi vui chơi, sinh hoạt, tham gia các hoạt động tập thể, ca, múa, nhạc kịch, học hành, học đàn, học vẽ... Ngành Văn hóa đã tham gia hướng dẫn cách tổ chức và hoạt động; bồi dưỡng đội ngũ làm công tác văn hóa, văn nghệ cho các câu lạc bộ. ở nhiều địa phương cũng đã hình thành các phòng khám, chữa bệnh cho trẻ em. Một số bệnh viện tăng thêm phương tiện, giường bệnh dành riêng cho trẻ em.

Từ những kinh nghiệm hoạt động ban đầu của các Câu lạc bộ Thiếu nhi, Trung ương Đoàn đã phối hợp với Bộ Văn hóa, Bộ Giáo dục mở Hội nghị tại chỗ ở Kiến An (nay thuộc Hải Phòng). Các đại biểu tham gia Hội nghị đã được tham quan, trao đổi kinh nghiệm trực tiếp với Câu lạc bộ Tiểu Trà, nghe các Câu lạc bộ Hồng Thái (xã Thái Thịnh, Thái Bình), Câu lạc bộ xã Nghi Công (Nghi Lộc, Nghệ An) báo cáo kinh nghiệm hoạt động.

Cũng từ đó hệ thống Câu lạc bộ, thư viện, tủ sách thiếu nhi hình thành và phát triển mạnh mẽ ở nhiều địa phương. ở nhiều tỉnh, thành phố bắt đầu có rạp chiếu bóng, cửa hàng, quầy hàng bách hóa dành riêng cho thiếu nhi. ở Trung ương Đoàn, ngoài tờ báo Thiếu niên Tiền phong còn có nhà xuất bản chuyên xuất bản các ấn phẩm dành riêng cho thiếu nhi lấy tên là Nhà xuất bản Kim Đồng (chính thức thành lập ngày 17-6-1957). Trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam đã ra đời chương trình phát thanh "Măng non", về sau đó là chương trình phát thanh thiếu nhi. Bên cạnh đó còn có báo Nhi Đồng và chương trình "Bông hoa nhỏ" trên Đài Truyền hình Việt Nam và ở Đài Phát thanh và truyền hình địa phương cũng có chương trình dành riêng cho các em thiếu niên, nhi đồng. Nhiều loại trang thiết bị phục vụ cho hoạt động Đội cũng được quan tâm đầu tư sản xuất như: trống, cờ, khăn quàng đỏ. Các điều kiện liên quan đến việc phục vụ ăn, mặc, học hành, vui chơi, giải trí của các em ngày càng thêm phong phú, phù hợp với từng lứa tuổi.

Năm 1961, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Đội Thiếu niên Tiền phong Việt Nam (15-5-1941 - 15-5-1961), Bác Hồ kính yêu đã gửi thư cho thiếu nhi cả nước. Trong thư Bác căn dặn các em 5 điều:

Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào.
Học tập tốt, lao động tốt.
Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt.
Giữ gìn vệ sinh.
Thật thà, dũng cảm.

Ngày 7-9-1961, Bác Hồ viết bài "Một thành tích vẻ vang" trên báo Nhân Dân, cơ quan Trung ương của Đảng, phát động phong trào thi đua 2 tốt: "Dạy thật tốt, học thật tốt". Bộ Giáo dục đã chính thức phát động phong trào thi đua "Hai tốt", bắt đầu từ trường Phổ thông cơ sở Bắc Lý (Lý Nhân, Hà Nam). Từ đó, sau mỗi năm học tổng kết phong trào thi đua: "Hai tốt", Bác Hồ đều tặng phần thưởng cho những học sinh giỏi toàn diện. Trong các phần thưởng đó Bác Hồ đều có ghi 5 điều Bác căn dặn thiếu niên, nhi đồng:

"Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào.
Học tập tốt, lao động tốt.
Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt.
Giữ gìn vệ sinh thật tốt
Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm".

Như vậy so với 5 điều Bác dạy thiếu niên, nhi đồng nhân dịp kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Đội, ở điều thứ tư Bác có thêm chữ "thật tốt" và ở điều thứ năm Bác thêm chữ "khiêm tốn", vì "mỗi điều có 6 tiếng cho các cháu dễ nhớ".

Thực hiện chỉ thị 197 CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, làm theo lời dạy của Bác Hồ, công tác Đội Thiếu niên Tiền phong và phong trào thiếu nhi các tỉnh miền Bắc từng bước đã có những chuyển biến mạnh mẽ cả về bề rộng cũng như chiều sâu. Công tác chăm sóc giáo dục thiếu nhi được cả xã hội quan tâm, trở thành phong trào "Toàn dân chăm sóc thiếu nhi" với những việc làm cụ thể, thiết thực.

Từ ngày 22 tháng 6 đến ngày 11-7-1961, cũng tại Thủ đô Hà Nội các em còn được tổ chức triển lãm "Thiếu nhi thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy". Hơn 10 ngày triển lãm mở cửa, hàng vạn thiếu nhi Thủ đô và một số tỉnh lân cận, cùng nhiều người lớn đã được vào Phủ Chủ tịch vui chơi và xem triển lãm những việc làm tốt đẹp của thiếu nhi cả nước theo 5 điều Bác Hồ dạy. Triển lãm được tổ chức giữa mùa hè, nhưng lúc nào cũng có đông các em thiếu nhi và cả người lớn vào xem. Những hình ảnh triển lãm đã gây nhiều xúc động đối với người xem về tình thương yêu to lớn của Bác Hồ đối với thiếu nhi cả nước, càng thêm thấm thía những điều Bác dạy. Đồng thời thông qua những hình ảnh được trưng bày cũng cho người xem thấy, làm theo 5 điều Bác Hồ dạy, thiếu nhi cả nước đã trưởng thành nhanh chóng, có những đóng góp xứng đáng đối với sự nghiệp kháng chiến cứu nước, cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước.

Sau triển lãm được tổ chức ở Phủ Chủ tịch, một số tỉnh, thành phố khác như Hải Phòng, Sơn Tây.. cũng đã tổ chức triển lãm "Thiếu nhi với 5 điều Bác Hồ dạy". Với những hình ảnh và hiện vật đã được trưng bày ở Phủ Chủ tịch và những hình ảnh, sản phẩm, những gương "người tốt việc tốt" của thiếu nhi địa phương... các cuộc triển lãm đã đem đến cho người xem, trước hết là đông đảo thiếu niên, nhi đồng nhiều điều bổ ích, tạo điều kiện để các em có dịp giao lưu, học hỏi kinh nghiệm của thiếu nhi các địa phương trong học tập rèn luyện, trong tổ chức các hoạt động thực tiễn theo 5 điều Bác Hồ dạy.

Cùng thời gian, quán triệt Chỉ thị 197 CT/TW và những lời dạy của Bác Hồ đối với công tác giáo dục thiếu niên, nhi đồng, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn (khóa III) đã họp Hội nghị lần thứ 5 bàn chuyên đề về công tác thiếu nhi. Nghị quyết của Hội nghị nhấn mạnh: "Phải chuẩn bị cho các em rồi đây trở thành những người lao động nhiệt tình xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, những người biết sống và làm việc trong xã hội đó". Nghị quyết đã chỉ ra những vấn đề cơ bản để giáo dục các em theo 5 điều Bác Hồ dạy; chuẩn bị nghiên cứu đề ra chương trình cấp bậc đội viên, tạo những điều kiện cần thiết để chuyển mạnh hoạt động Đội vào trường học; mở rộng cuộc vận động "Toàn Đoàn làm công tác thiếu nhi". Trong đó nêu rõ: Đoàn Thanh niên trên mọi lĩnh vực hoạt động khác nhau trong xã hội cần dành một phần thì giờ, trí tuệ, tài năng của mình về khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao... góp phần giáo dục các em phát triển toàn diện.

Nội dung, hình thức hoạt động Đội và phong trào thiếu nhi từng bước đã có nhiều tìm tòi, đổi mới phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi, với từng hoàn cảnh của các em, tạo điều kiện thu hút ngày càng đông đảo các em đến với những hoạt động tập thể vui tươi, lành mạnh, có tác dụng giáo dục cao. Một trong những đổi mới hình thức hoạt động đem lại hiệu quả là "sinh hoạt chủ đề" theo những sự kiện lịch sử quan trọng đối với trong nước và trên thế giới. Từng thời kỳ, tùy theo những sự kiện lịch sử phù hợp với yêu cầu giáo dục, hàng năm các em được tổ chức sinh hoạt theo một chủ đề cho một năm học. Cũng có những chủ đề cho một tháng, hoặc một cuộc sinh hoạt nhất định.

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 15 ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2-9-1945 - 2-9-1960), các em có chủ đề "Mừng mười lăm năm đất nước nở hoa"; mừng sinh nhật Bác Hồ những năm tròn 70, 75 tuổi, có chủ đề "Em yêu Bác Hồ Chí Minh". Mừng miền Nam đánh thắng, có "Em đi thăm miền Nam yêu quí của Tổ quốc", "Em yêu anh bộ đội"... Có loại chủ đề cho cả một phong trào lớn, được duy trì trong nhiều năm, như "Ngàn hoa việc tốt dâng Đảng quang vinh", được tổ chức nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng. "Nghìn việc tốt thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy", "Nghìn việc tốt chống Mỹ cứu nước"...

Sinh hoạt theo chủ đề là một bước đổi mới theo chiều sâu trong công tác Đội và phong trào thiếu nhi thời kỳ này, đồng thời nâng cao tinh thần tự quản của các em, đảm bảo dân chủ trong các hoạt động. Được tổ chức Đoàn, các anh, chị phụ trách gợi ý, hướng dẫn, các em thảo luận, quyết định chọn chủ đề cho từng năm, từng cuộc sinh hoạt và tổ chức hoạt động. Tự các em sưu tầm tài liệu, sách báo, bài hát xoay quanh "chủ đề", "chủ điểm" được chọn, tự thuyết trình, trao đổi trong các buổi sinh hoạt, tổng kết hoạt động, biểu dương người tốt, việc tốt... tạo cho các em sự hứng thú trong sinh hoạt, nâng cao thêm hiểu biết cho các em về lịch sử dân tộc, về Đảng quang vinh và Bác Hồ vĩ đại, và cả về tổ chức Đội của các em...

Năm 1961, Liên đội Tam Sơn (Tiên Sơn, Bắc Ninh), có sáng kiến dấy lên phong trào "Làm nghìn việc tốt thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy", giành danh hiệu "Cháu ngoan Bác Hồ". Phong trào đã thu hút gần như toàn bộ thiếu niên, nhi đồng và các tổ chức Đội ở các địa phương trong cả nước tham gia dưới nhiều hình thức: xây dựng nền nếp học tập; giữ gìn vệ sinh trường lớp, xóm làng; chăm sóc gia đình thương binh, liệt sĩ, người già cô đơn; lao động giúp đỡ gia đình, hỗ trợ hợp tác xã sản xuất, bảo vệ của công, làm kế hoạch nhỏ... Thông qua những việc làm thiết thực, cụ thể thiếu niên, nhi đồng Tam Sơn đã đóng góp phần công sức đáng kể xây dựng quê hương ngày một đổi mới, có trường học khang trang, đường làng ngõ xóm lúc nào cũng phong quang sạch sẽ. Nhiều em thiếu niên trưởng thành trong phong trào, sau này đã trở thành những cán bộ, những người có ích trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

Phong trào "Làm nghìn việc tốt thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy" giành danh hiệu "Cháu ngoan Bác Hồ" nhanh chóng trở thành phong trào sâu rộng trong hoạt động Đội và phong trào thiếu nhi các tỉnh miền Bắc. Hội nghị lần thứ 12 của Ban Chấp hành Trung ương Đoàn (khóa III) đã đánh giá phong trào "Làm nghìn việc tốt thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy" giành danh hiệu "Cháu ngoan Bác Hồ" là một phong trào có tác dụng giáo dục toàn diện đối với thiếu niên, nhi đồng và đã quyết định phát triển sâu rộng trong hoạt động Đội và phong trào thiếu nhi. Phong trào đã được duy trì và phát triển trong nhiều năm, không ngừng được nâng cao cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn. Nhiều cấp bộ Đoàn, các cán bộ phụ trách Đội đã thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt khoa học, sinh hoạt chuyên đề, thảo luận, đi sâu nghiên cứu những điều Bác Hồ dạy, vận dụng vào việc giáo dục, tổ chức hoạt động cho thiếu niên, nhi đồng, phù hợp với từng lứa tuổi, làm cho các em ngày càng thấm thía hơn với những lời dạy của Bác, trở thành tâm huyết, thành phương châm hành động, thành dấu ấn trong suốt cuộc đời của các em từ lúc còn nhỏ cũng như khi đã trưởng thành.

Các điển hình tiên tiến trong hoạt động Đội và công tác thiếu niên, nhi đồng xuất hiện ngày một nhiều. Cùng với Tam Sơn, Liên Đội Thiếu niên Tiền phong trường cấp I, II Trưng Vương, trường Lê Ngọc Hân (Hà Nội), trường Bắc Lý (Lý Nhân - Hà Nam)... trở thành những lá cờ đầu trong phong trào thi đua của Đội và phong trào thiếu nhi. Đó cũng là những liên đội thường được chọn làm thí điểm phát động các đợt sinh hoạt theo chủ đề để rút kinh nghiệm chỉ đạo ra diện rộng. Năm học 1961 - 1962, sau khi Bác Hồ viết bài "Một thành tích vẻ vang" trên báo Nhân Dân và phát động phong trào thi đua 2 tốt: "Dạy thật tốt và học thật tốt", trường cấp II Bắc Lý (nay là trường THCS Bắc Lý) được chọn làm nơi chính thức phát động phong trào thi đua "Hai tốt" của Bộ Giáo dục, càng khẳng định hướng đi đúng đắn của một trường luôn kiên trì mục tiêu, nguyên lý giáo dục của Đảng, được cụ thể hóa phù hợp trong từng giai đoạn cách mạng và tình hình thực tế của địa phương, nhằm đào tạo những mẫu người đáp ứng yêu cầu của cách mạng và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Bắc Lý là một trường Trung học cơ sở, được thành lập từ năm 1953 ở vùng đồng chiêm trũng của huyện Lý Nhân (Hà Nam). Trở thành một trong những trường chỉ đạo điểm của ngành và ngày càng khẳng định vai trò của một nhà trường xã hội chủ nghĩa, trong đó có vai trò của tổ chức Đội Thiếu niên Tiền phong. Trong những năm đầu của thập niên 60, Liên Đội trường Bắc Lý thuộc sự chỉ đạo của Đoàn Thanh niên xã. Sau Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ III và nhất là sau Hội nghị BCH Trung ương Đoàn lần thứ 5 (khóa III), Liên Đội Thiếu niên Tiền phong trường Bắc Lý hoạt động trên cả hai địa bàn: trong nhà trường và ngoài nhà trường và đều phát huy tác dụng tích cực trong việc tổ chức đội viên thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy, trở thành một điển hình xuất sắc trong tổ chức giảng dạy và học tập).

Ngay trong năm học 1961 - 1962, Bắc Lý đã trở thành lá cờ đầu của ngành giáo dục. Tiếng trống Bắc Lý vang lên đến từng ngõ xóm, thu hút đông đảo con em trong vùng đến trường đến lớp. Các bậc phụ huynh thấy yên tâm khi gửi con em mình đến học tại Bắc Lý. Các thầy cô giáo của trường chăm lo đến từng giờ lên lớp. Các em học sinh tìm tòi từng phương pháp học tập. Các em xây dựng từng đôi bạn học tập, kèm cặp nhau học tập. Những em sức học yếu được các thầy cô giáo quan tâm, được bạn bè thường xuyên chỉ dẫn, giúp đỡ dần dần trở thành những học sinh khá, có em trở thành học sinh giỏi, trở lại giúp đỡ những học sinh yếu khác. Những góc học tập được hình thành trong các gia đình. Những giờ truy bài được phát triển. Các em thường lấy "5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên, nhi đồng" làm chuẩn để xem xét việc học tập, việc rèn luyện của mình và của bạn. Coi mỗi việc làm tốt, mỗi lần đạt được điểm 10 là một lần làm được một việc tốt thực hiện lời Bác dạy.

Tiếng trống Bắc Lý đã nhanh chóng lan rộng, trở thành phong trào thi đua học tập và đuổi kịp Bắc Lý trong các trường học, trong hoạt động Đội và phong trào thiếu nhi ở khắp mọi nơi. Cùng với các phong trào "Gió Đại Phong" và phong trào "Sóng Duyên Hải", "Cờ Ba nhất", "Tiếng trống Bắc Lý" thật sự đã trở thành phong trào sôi động thu hút hầu hết các trường học trong các tỉnh, thành phố trên toàn miền Bắc thi đua "Dạy tốt" và "Học tốt", với nhiều hình thức phong phú, cổ vũ các em "Làm nghìn việc tốt, thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy".

Về sau này, Bắc Lý vẫn luôn giữ vững danh hiệu lá cờ đầu. Từ năm học 1965-1966, khi miền Bắc Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, các lớp học của Bắc Lý phải sơ tán về các thôn xóm, hoạt động của Liên Đội Thiếu niên Tiền phong của trường Bắc Lý vẫn tiếp tục được duy trì, với nhiều hình thức thi đua sôi nổi, phấn đấu trở thành "Dũng sĩ diệt Mỹ" trong học tập, "Tiếng hát át tiếng bom". Liên Đội đã tổ chức các hoạt động ngoài nhà trường có hiệu quả, như thành lập các "Đội học việc", về sau đổi thành "Đội thiếu niên học tốt, làm tốt", với các phong trào "Cắt cỏ khao trâu", "Sạch làng tốt ruộng", "Làm nghìn việc tốt"... Trong nhà trường Liên Đội triển khai các hoạt động toàn diện trên các mặt: học tập, lao động sản xuất, văn hóa thể thao... từng bước phát triển các phong trào "Vui học - học vui", "Đôi bạn cùng tiến", "Câu lạc bộ môn học", "Giúp đỡ sao nhi đồng"...

Những tấm gương tiêu biểu của thiếu niên, nhi đồng xuất hiện ngày một nhiều. Bùi Thị Tứ ở Thái Bình, 3 năm liền cõng bạn đi học. Nguyễn Đỗ Hùng (Hà Nội), không quản nguy hiểm đã lao mình xuống dòng sông Hồng chảy xiết để cứu bạn khỏi chết đuối và đã bị hi sinh dũng cảm, được truy tặng danh hiệu liệt sĩ và phát động phong trào học tập trong cả nước. Cũng cùng hành động cứu bạn khỏi chết đuối, đáng chú ý có em Đặng Văn Kiên, mới 7 tuổi, nhưng khi thấy các bạn mình đang bị dòng nước cuốn trôi, đã không ngần ngại nhảy xuống, cứu được 2 bạn. Dũng cảm, chăm ngoan, khiêm tốn, thật thà là những đức tính quí báu được nhiều em thiếu niên, nhi đồng phát huy. Em Nguyễn Trọng Thể, chỉ mới 6 tuổi, nhiều lần nhặt được của rơi, em đều đem trả lại cho người mất. Hành động vô tư trong sáng của em làm cho ai cũng quí mến, cảm phục. Tiêu biểu cho tinh thần vượt lên số phận, chịu khó, ham học của thiếu nhi thời kỳ này phải kể đến tấm gương của em Nguyễn Ngọc Ký (Nam Định). Không may, từ nhỏ Ký đã bị liệt cả hai tay. Không cam chịu số phận, để được đi học như các bạn, Ký tập viết bằng chân. Phải kiên trì khổ luyện Ký mới thực hiện được ước mơ đến trường của mình. Quá trình học tập là những ngày tháng Ký phải nỗ lực vượt qua nhiều vất vả gian nan. Nhiều khi tê cứng cả người, tưởng phải bỏ cuộc. Nhưng với ý chí của một thiếu niên giàu nghị lực, anh đã vượt qua trở thành một học sinh giỏi, tham gia viết văn, làm thơ được thầy, cô yêu quí, bạn bè hết lòng chăm sóc giúp đỡ. Học hết chương trình phổ thông, anh theo học đại học và sau đó trở thành một thầy giáo, một Nhà giáo Ưu tú. Cuộc đời Nguyễn Ngọc Ký là cả một tấm gương sáng, "tàn nhưng không phế" như Bác Hồ đã dạy.

Đánh giá cao những đóng góp của thiếu niên, nhi đồng trong sự nghiệp của toàn dân, tại Hội nghị chính trị đặc biệt do Người triệu tập ngày 27-3-1964, họp ở Hội trường Ba Đình (Hà Nội), khi nhắc đến phong trào "nghìn việc tốt" Bác Hồ đã biểu dương: "Các cháu nhi đồng rất ngoan, rất cố gắng, nhiều cháu đã cứu bạn trong cơn nguy hiểm, nhiều cháu thật thà đem trả của rơi, thi đua giúp đỡ nhau làm nghìn việc tốt".

*
*   *

Những năm từ 1960 đến 1964, cách mạng miền Nam Việt Nam có những bước chuyển biến mới. Sau cao trào đồng khởi làm lay chuyển bộ máy thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời đảm nhận sứ mệnh lịch sử tổ chức cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân miền Nam. Trong lúc đó đế quốc Mỹ, bị thất bại trong chiến lược "Chiến tranh đơn phương" đã đẩy cuộc chiến tranh lên một bước mới, thực hiện chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" chống phá cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân ta ngày càng quyết liệt. Chúng lấy quân đội nguỵ, với trang bị vũ khí, kỹ thuật hiện đại của Mỹ làm lực lượng chủ yếu của cuộc chiến; coi bình định, dồn dân lập ấp chiến lược là xương sống của chế độ, thực hiện mục tiêu "tát nước, bắt cá", lùng bắt cán bộ, đảng viên cộng sản, tiêu diệt các cơ sở cách mạng, triệt phá tận gốc phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân, bóp chết từ trong trứng các cuộc nổi dậy của quần chúng cách mạng.

Phong trào thiếu nhi của các tỉnh miền Nam thời kỳ này càng trở nên khó khăn, phức tạp. Mặc dù sau ngày Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, các tổ chức quần chúng của Mặt trận, như Hội Thanh niên Giải phóng, cũng đã hình thành, trực tiếp tổ chức đối tượng của mình tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh chống chế độ tàn bạo của Mỹ và Nguỵ quyền tay sai, trong đó có cả tổ chức Thiếu niên Giải phóng. Nhưng do kẻ địch dùng nhiều thủ đoạn nham hiểm, xảo quyệt, ở nhiều địa phương phong trào quần chúng phần lớn đều có những tổn thất. Nhất là ở những vùng kẻ địch tập trung tiến hành dồn dân lập ấp chiến lược. Nhiều tổ chức vừa được lập ra chưa kịp bắt tay vào hoạt động đã bị đánh phá, phải lập đi lập lại nhiều lần. Nhiều em thiếu nhi đã bị địch bắt bỏ tù, bị đánh đập hành hạ, thậm chí bị bắn giết hết sức dã man. Trại tù nữ ở Qui Nhơn (Bình Định), có cả nhiều em thiếu nữ cũng bị bắt giam cùng các má, các chị. Trại tù binh Phú Quốc có trên 10 ngàn người, phần lớn là bộ đội, du kích, cũng có trên 20 em thiếu nhi từ 13-15 tuổi bị bắt giam...

Cuộc đấu tranh của thiếu niên, nhi đồng các tỉnh miền Nam thời kỳ này cũng như cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam với chế độ tàn bạo của Mỹ và Nguỵ quyền tay sai diễn ra vô cùng khốc liệt. Tại trại tù Qui Nhơn, kẻ địch thường bắt các nữ tù nhân mỗi buổi sáng phải tập trung trong sân để chào cờ của chúng, nhằm hạ uy thế các chiến sĩ tù binh. Mặc dù bị chúng dùng dùi cui, báng súng, hơi cay, vôi bột... để buộc chị em phải ra sân chào cờ, nhưng đa số chị em vẫn không chịu khuất phục, không chào cờ của chúng. Để răn đe, chúng đã nghĩ ra một cách đối phó thâm độc. Lợi dụng trại giam đặt giữa cồn cát không cây cối, chúng lấy hai tấm tôn đặt trên cát, quây kẽm gai xung quanh thành một nơi biệt giam, bắt 2 nữ tù binh trên 50 tuổi và 3 em nhỏ nhất từ 12-13 tuổi nhốt vào đó, với điều kiện nếu chịu chào cờ mới được thả ra. Trời nắng như đổ lửa. Hai tấm tôn bị nung nóng lên như chảo rang, còn cát bị hun nóng bốc hơi phả lên hầm hập. Mỗi ngày chúng chỉ cho mỗi người một ly nước nhỏ, như trêu ngươi, làm cho cơn khát của các má, các em nhỏ càng thêm cực. Tuy vậy vẫn không một ai chịu khuất phục. Các em nhỏ ban ngày bị nắng nóng mệt lả, có lúc ngất xỉu, nhưng đêm đến, tỉnh táo các em lại ngước lên trời dõi theo sao Mai, ngôi sao Bắc Đẩu, hướng ra miền Bắc, kể cho nhau nghe chuyện Bác Hồ, cùng nhau hát những bài hát ca ngợi Bác. Có lúc các em còn hát những bài hát địch vận, đọc những bài ca dao ca ngợi quê hương... Cuộc đấu tranh kéo dài mấy ngày liền. Cuối cùng kẻ địch phải chịu thua tinh thần kiên cường của các má, các em, phải trả họ trở về các trại giam. Cuộc đấu tranh chống chào cờ của trại giam nữ tù binh Qui Nhơn thắng lợi, đã gây tiếng vang lớn, lan đến các tỉnh, các thành phố, cổ vũ tinh thần đấu tranh của các tầng lớp nhân dân trong cuộc đấu tranh sinh tử với quân thù.

Càng trong gian khổ, ác liệt thiếu niên, nhi đồng các tỉnh, thành phố miền Nam càng tỏ ra vô cùng gan dạ và thông minh tài trí. Không ít cán bộ hoạt động trong lòng địch, ở vùng tranh chấp, nhất là trong những thời điểm địch khủng bố gắt gao, nhiều lần thoát được vòng nguy hiểm chính là nhờ sự mưu trí của các em. Trong đó không ít lần, gặp trường hợp kẻ địch xuất hiện bất ngờ, người lớn cũng phải lúng túng. Chính lúc đó các em đã xuất hiện, nhanh trí gỡ rối, giúp cán bộ thoát được ra khỏi vòng vây.

Anh Năm Thạnh, Bí thư Tỉnh Đoàn Rạch Giá, được điều động về vùng biên giới Hà Tiên móc nối cơ sở, gây dựng phong trào. Một hôm ghé lại nhà má Tám là cơ sở anh thường qua lại. Chưa kịp uống ly nước, đã có tin bọn lính trên bót đang xuống, anh Năm chỉ kịp lánh vào buồng vợ chồng người con trai của má thì chúng đã ập tới sân. Một tên lính không rõ vì sao đến ngay chiếc võng treo ở cửa buồng, vốn thường ngày chị con dâu má vẫn nằm ru con ngủ. Hắn không nói một lời, tựa cây súng vào vách và nằm vào võng. Tình huống thật bất ngờ, khó xử. Má Tám lúng túng không biết tính thế nào. Thấy chị con dâu đang bế con, má vội đi đến đỡ cháu, véo mạnh vào đùi làm nó khóc ré lên. Vừa bế vừa nựng, má đi tới cửa buồng, nói với tên lính cho má xin võng để ru cháu ngủ. Đuổi được tên lính ra khỏi cửa buồng, nhưng vẫn không thể đưa anh Năm ra khỏi nhà! Má tính mãi vẫn không tìm được cách an toàn. Bỗng thấy một sắp nhỏ chăn bò kéo nhau vào sân, tranh nhau xin má Tám mấy trái xoài để ăn cho đã khát. Má Tám hiểu ý, bảo lũ trẻ hái nhiều xoài cho cả bọn lính ăn chơi. Thừa lúc bọn lính đang mải ăn xoài, 2 em nhỏ lẻn vào buồng đưa cho anh Năm chiếc nón cũ và chiếc roi xua bò, dẫn anh đi lối sau nhà ra đồng, cùng 2 em lùa đàn bò qua ruộng sang thôn bên.

Những việc làm mưu trí, dũng cảm của thiếu niên, nhi đồng miền Nam đã góp phần giải thoát nhiều cô, chú cán bộ, bộ đội. Em Cựu con má Hiệp ở xóm Hố Long (Hưng Thượng - La Vang) nhờ biết cách lừa địch đã bảo vệ được hầm bí mật đang che giấu cán bộ trong nhà; em Hồ Văn Thanh (Đinh Thanh), ở miền núi Trà Bồng, mới 9 tuổi, vẫn đánh lừa được bọn lính ra khỏi làng báo tin cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy thoát khỏi vòng vây của chúng. Chính cô Ba Định (bà Nguyễn Thị Định, Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam những năm kháng chiến chống Mỹ, sau này là Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam), khi còn là Phó Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, cũng đã có lần thoát khỏi vòng nguy hiểm, nhờ sự mưu trí của một em bé gái 13 tuổi. Lần đó cô Ba Định về Phước Thạnh công tác, đến một gia đình cơ sở bên kinh An Hòa. Khi nhà đi làm vắng, chỉ để 2 chị em ở lại trông nhà, thì bọn lính bất ngờ ập đến. Cô Ba Định vội thu xếp bòng, nhảy xuống hầm bí mật. Không may trời mưa suốt đêm, hầm đầy nước. Khi cô nhảy xuống làm nước bắn tung tóe lên miệng hầm, rất dễ bị lộ. Nhưng khi bọn lính kéo đến, chính em gái tên Thành của gia đình đã như vô ý làm bể nồi tấm, làm nước lênh láng khắp nhà. Tốp lính vô nhà thấy em đang thu dọn cái nồi bể  và rầy la em, chỉ ngó lơ một lúc rồi bỏ đi.

Tinh thần gan dạ của thiếu niên, nhi đồng miền Nam làm chính kẻ địch cũng phải chùn tay. Một lần do bọn chiêu hồi chỉ điểm, bọn địch hùng hổ kéo đến vây chặt một gia đình cơ sở ở Long An. Chúng sục sạo khắp nhà tìm hầm bí mật. Cả nhà đi làm vắng, chỉ có 3 chị em ở nhà trông nhà. Chị lớn 14 tuổi, em trai thứ hai 12 tuổi, em út mới lên 8 tuổi. Sục sạo khắp nơi không tìm thấy hầm bí mật, chúng quay sang tra khảo các em. Đầu tiên, chúng gạn hỏi em gái lớn. Thấy em một mực không khai báo. Chúng đánh em ngất xỉu, em vẫn nói không biết, không có hầm trong nhà. Đến lượt em trai, chúng dùng bao bố trùm kín đầu dìm xuống nước. Em chết đi sống lại nhiều lần. Chúng lột hết quần áo, để em trần truồng, trói lại, đem phơi ra giữa trời mưa, vẫn không khai thác được ở em nửa lời. Với em nhỏ 8 tuổi, chúng dùng thủ đoạn mua chuộc, cho tiền, cho bánh kẹo, dỗ em chỉ hầm bí mật cho chúng, em cũng chỉ lắc đầu. Hết gần cả ngày không kết quả, chúng đành bỏ cuộc. Khi các anh, chị du kích ở dưới hầm được cứu thoát, hỏi các em vì sao bị đánh đau như thế vẫn không khai báo các em đã trả lời một cách thật hồn nhiên:

- Ba má, các anh, các chị dạy chúng em chết thì chết chứ không được khai với địch điều gì. Càng khai chỉ tổ làm chúng càng tra khảo. Rồi chúng sẽ bắt các anh các chị, lại còn đốt nhà nữa. Chúng đốt mất nhà thì lấy đâu nhà cho bà ở, chúng bắt mất các anh các chị thì lấy ai đánh Mỹ...

Được tổ chức hướng dẫn, thiếu niên, nhi đồng ở các địa phương trên toàn miền Nam những năm kháng chiến chống Mỹ ngày càng đóng góp nhiều công sức tích cực tham gia trong mọi phương thức đấu tranh của nhân dân. Trong phong trào đấu tranh chính trị rộng khắp, hàng ngàn em thiếu nữ đã tham gia đội quân tóc dài sát cánh cùng các má, các chị trong các cuộc xuống đường, trở thành những mũi xung kích trong các cuộc đấu tranh. Trong nhiều trường hợp, các em tỏ ra vô cùng mưu trí.

Sự mưu trí đôi khi mang tính "trẻ con" của các em đã mang lại những hiệu quả bất ngờ. ở Cao Lãnh (Đồng Tháp), năm 1954, trước khi tập kết ra miền Bắc theo tinh thần Hiệp định Giơnevơ, bộ đội và nhân dân địa phương đã tổ chức xây mộ cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh ra Bác Hồ. Khi chiếm đóng Cao Lãnh, Ngô Đình Diệm lấy cớ cụ Phó Bảng là quan đồng liêu trong triều đình phong kiến với cha hắn, định cho bốc mộ cụ đi nơi khác, thực chất là muốn phá bỏ mộ cụ, xóa bỏ hình ảnh người sĩ phu yêu nước Nguyễn Sinh Sắc trong lòng nhân dân Cao Lãnh, cũng như nhân dân toàn miền Nam. Nhân dân đấu tranh quyết liệt, buộc chúng phải huỷ bỏ mưu đồ đen tối. Để bảo vệ phần mộ thân sinh ra Bác Hồ, thiếu nhi Cao Lãnh đã mượn danh nghĩa Đoàn thiếu nhi Phật tử của chùa trong đó có thờ bài vị cụ Phó Bảng để đấu tranh đòi được chăm sóc, bảo vệ mộ cụ. Ngày mồng 1, ngày rằm, ngày Tết các em đều tổ chức đến viếng mộ cụ Nguyễn Sinh Sắc, hương khói phụng thờ chu đáo, không để kẻ địch xâm phạm đến phần mộ của cụ.

Các em thiếu nhi người dân tộc ở Tây Nguyên cũng có cách riêng để đấu tranh vạch rõ bộ mặt thật của bè lũ tay sai phản dân hại nước. Một lần bọn lính trên đồn bắt dân làng vào rừng chặt lồ ô đan thành tấm phên dựng lập ấp chiến lược. Chúng đem ảnh Ngô Đình Diệm dán vào tấm phên để dân làng ra vào chiêm ngưỡng Ngô Tổng thống. Không ngờ ngay sáng hôm sau ảnh Ngô Tổng thống đã bị xô lệch, mắt bị chọc thủng, con ngươi bị nhét đầy đất, mặt bị bôi nhem nhuốc. Tên đồn trưởng tức tối, bắt dân làng lại, dọa sẽ mổ bụng moi gan kẻ nào dám chọc mù mắt cụ Ngô. Không một ai lên tiếng. Nó đổi giọng hứa khoan hồng cho người phạm tội, vẫn không một ai nhúc nhích. Tên đồn trưởng quay sang hỏi các em thiếu nhi có mặt, nếu chỉ ra người phạm tội sẽ được thưởng. Từ trong đám đông dân làng, bỗng bé Tu bước ra. Tên đồn trưởng mừng ra mặt. Không ngờ bé Tu lại nhận chính mình đã chọc thủng mắt Ngô Tổng thống với một lý lẽ thật ngây ngô: vì em không biết người trong ảnh là ai. Khi em đến đây chơi, cái ông trong ảnh cứ nhìn em chòng chọc. Bảo không được nhìn mà nó cứ nhìn, nên em tức quá mới chọc cho nó mù mắt để nó chừa cái tật nhìn người khác đi! Nghe vậy, tên đồn trưởng cứ cứng cả họng. Còn dân làng thì hả lòng, hả dạ.

Làng An là vùng tranh chấp giữa ta và địch. Từ cuối năm 1962, khi cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam xuất hiện trên nóc chợ Chùa, khí thế của quần chúng bắt đầu dâng cao. Bọn địch hoảng sợ, tìm cách tranh giành ảnh hưởng. Đêm đến chúng cho bọn tuyên văn tác vụ đem khẩu hiệu về căng trong chợ, hi vọng sẽ đánh một đòn chính trị, gây tiếng vang trong vùng. Nhưng hành động lén lút của chúng đã bị các em tổ thiếu nhi xóm Chùa phát hiện. Ngay trong đêm các em đã ra tháo khẩu hiệu của chúng xuống xem và nghĩ ra cách sửa lại nội dung câu khẩu hiệu, rồi đem treo lại chỗ cũ. ở câu "Toàn dân tham gia chống cộng", các em chỉ bỏ đi chữ "chống", thành câu "Toàn dân tham gia cộng" và thêm dấu than vào cuối câu . ở câu "Toàn dân tri ân Ngô Tổng thống", các em bỏ đi chữ ân, thêm dấu nặng vào chữ tri, thành "Toàn dân trị Ngô Tổng thống" và cũng thêm dấu chấm than vào cuối câu. Sáng ra bà con đến chợ, nhìn thấy hai câu khẩu hiệu, đã được một mẻ cười thỏa dạ. Bọn địch không ngờ chính "gậy ông lại đập lưng ông".

Xóa, sửa khẩu hiệu của địch để đánh địch, đồng thời các em thiếu niên, nhi đồng miền Nam cũng đã sáng tạo nhiều cách để treo khẩu hiệu, thả truyền đơn của ta. Tại thị xã Buôn Ma Thuột, tổ thiếu niên bí mật của thị xã có sáng kiến treo cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam vào bóng bay thả lên cao, cho mắc lên ngọn cây đa gần dinh tên tỉnh trưởng bù nhìn. Lợi dụng những cơn gió lốc vào buổi chiều, các em thả truyền đơn để gió mang theo vào rải khắp thị xã. Em Hùng là một thiếu niên ở thị xã còn tìm cách làm quen, lân la chơi với bọn Mỹ. Khi chúng không để ý đã bí mật dán cờ giải phóng lên lưng chúng. Không biết có cờ giải phóng trên lưng nhiều tên lính Mỹ cứ ung dung đi lại trên đường phố.

Còn ở ngay giữa trung tâm Sài Gòn, khi tên cố vấn giáo dục của Mỹ đến thăm một lớp đệ tam (tương đương lớp 8 phổ thông hiện nay) của trường trung học Nguyễn Huệ. Lúc tên cố vấn Mỹ đang huênh hoang về sự ưu việt của nền giáo dục Hoa Kỳ thì bất ngờ quạt trong lớp học được mở hết cỡ. Hàng trăm tờ truyền đơn bằng hai thứ tiếng Việt, Mỹ: "Đế quốc Mỹ cút khỏi miền Nam Việt Nam", "Đả đảo nền giáo dục vong bản nô lệ", "Đả đảo bọn mật vụ", "Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam muôn năm", được dịp tung ra, bay khắp lớp học. Cả phòng học ồn ào. Các em reo hò. Tên cố vấn hoang mang, còn hiệu trưởng, giám thị thì cuống cuồng, lo sợ.

Trong công tác binh, địch vận, thiếu niên, nhi đồng các tỉnh miền Nam cũng có những việc làm sáng tạo, góp phần vận động nhiều binh sĩ địch quay súng trở về hàng ngũ kháng chiến của nhân dân. ở miền Nam Trung Bộ, có một em gái mồ côi, bị mù cả hai mắt. Khi quê em còn là căn cứ giải phóng, những đêm tổ chức liên hoan văn nghệ, em vẫn thường lên hát cho bà con cô bác nghe. Em có giọng ca thật ngọt ngào. Bà con cô bác ai cũng thương, cũng tìm cách đùm bọc em. Từ khi địch dồn dân vào ấp chiến lược, bà con bị o ép, làm ăn khó khăn, em phải tự kiếm sống bằng nghề hát dạo. Đàn không có, em kiếm một mảnh tre già và một cây dùi gõ nhịp. Thường ngày em hay lân la đến chỗ bọn bảo an trong bót và bọn dân vệ gác ấp, gác nhà hội đồng, hát cho bọn chúng nghe. Lời ca của em thật thống thiết, như xoáy vào tim bọn lính nguỵ:

Ai xui nên họa đao binh
Nhà tan cửa nát, sinh linh điêu tàn
Dừa xanh gục cháy thành than
Ruộng vườn bỏ cỏ, không làm sao ăn?
Ước mong sao sớm thanh bình...

Vừa ca, em vừa dùng đôi tai thính nhạy của mình nhận biết tâm trạng của từng tên lính địch, rồi bí mật báo cho các cán bộ đằng mình, để các cô, chú có cách vận động chúng bỏ hàng ngũ địch. Qua những thông tin do em cung cấp ta đã xây dựng được cơ sở binh vận nội tuyến, tạo điều kiện để khi có thời cơ, bà con đã phá ấp chiến lược trở về làng cũ làm ăn.

ở Quảng Nam và Đà Nẵng, khi quân Mỹ đổ vào đông, cũng như các anh, chị lớn tuổi, các em thiếu nhi đã có phong trào học tiếng Mỹ để nói chuyện trực tiếp với lính Mỹ. Vốn tiếng Mỹ tuy ít, nhưng vừa nói vừa ra hiệu, dần dần các em cũng hiểu được trong hàng ngũ binh sĩ Mỹ cũng có nhiều người không muốn đi lính làm bia đỡ đạn, không muốn có chiến tranh. Cứ như thế các em nắm tin tức mọi mặt đội quân viễn chinh Mỹ, góp phần vận động binh sĩ Mỹ chống chiến tranh. ở Hòa Hải, các em trong đội thiếu niên du kích của địa phương còn vận động được cả một lính Mỹ ra với Mặt trận kháng chiến của nhân dân Việt Nam.

Vốn là lứa tuổi hồn nhiên, thích được tự do ca hát, khi bị dồn vào ấp chiến lược, bị giam hãm trong tù túng, nhiều em vẫn lén tụ tập ca hát với nhau. ở Bến Cầu, một huyện giáp biên giới với Campuchia, có quốc lộ 1A từ Sài Gòn đi Phnômpênh chạy qua, lại có rừng Nhum mênh mông, từng là căn cứ của cách mạng. Trong nhiều năm là vùng giải phóng, các em thiếu nhi đã từng được sinh hoạt Đội, được các anh, chị dạy ca hát, vui chơi tập thể. Khi trở thành trọng điểm dồn dân, lập ấp chiến lược của Mỹ - Nguỵ, các em nhớ vườn, nhớ nhà, thỉnh thoảng vẫn cùng nhau ca những bài hát cách mạng. Chủ tịch hội đồng hương chánh là một tên nham hiểm, khi biết các em vẫn lén ca những bài hát cách mạng, nó nghĩ "trẻ con thích ca hát, có cấm cũng không được" nên nảy ra ý định tổ chức cho các em thi ca hát. "Các em tha hồ muốn hát gì thì hát, chỉ cấm hát những bài ca Việt Cộng". Nó không ngờ "gậy ông lại đập lưng ông". Đêm đầu các em diễn ca mới, ca cổ có nội dung chung chung. Những đêm sau các em thêm vào nội dung về quê hương bị chiến tranh tàn phá, gia đình ly tán, mong có ngày đoàn tụ... Qua từng tiết mục biểu diễn, các em để ý quan sát thái độ từng tên lính. Từ đó làm quen, móc nối với những tên thường có thái độ chán nản, nhớ nhà, vận động họ đem súng trở về với nhân dân. Chỉ riêng việc làm đó các em ở Bến Cầu cũng đã vận động được 5 binh sĩ bỏ hàng ngũ địch. Còn ở xã Long Khánh (Cai Lậy - Tiền Giang) 7 em thiếu nhi cũng đã vận động được 18 binh sĩ nguỵ bỏ hàng ngũ địch trở về nhà làm ăn.

Các em thiếu niên, nhi đồng các tỉnh miền Nam thời kỳ này thường làm công tác vận động binh sĩ địch theo cách của mình. Có khi chỉ bằng tiếng khóc làm mủi lòng những binh sĩ địch xa nhà, như những đứa con của chị Năm Mừng ở vùng ven căn cứ Bình Đức (Mỹ Tho - nay thuộc Tiền Giang), khi lính Mỹ đến nhà bắt chị lên trực thăng, vì vườn nhà chị vốn là nơi đặt pháo của bộ đội giải phóng mỗi lần tấn công vào căn cứ Bình Đức, các em đã ôm lấy mẹ khóc la thảm thiết, đến mức những tên lính Mỹ cũng phải khóc theo, đành bảo nhau lên trực thăng bỏ đi, không bắt theo mẹ các em nữa. Cũng có nhiều khi các em dùng trò chơi, dụ cho lính Mỹ đến xem, từ đó tìm cách lấy vũ khí của chúng trao cho du kích. ở Hòa Vang (Quảng Nam), có lần các em thiếu nhi đã cho một con cóc cụ hút thuốc say lử đử, bọn lính Mỹ quây lại xem. Trong đó có cả một tên giữ súng trung liên cũng bỏ súng đến xem. Lợi dụng khi tên lính Mỹ sơ hở các em dùng dây diện buộc vào báng súng, kéo dần ra sau lùm cây, giấu biến. Khi phát hiện mất súng, chính bọn Mỹ cũng ngơ ngác không hiểu khẩu súng đã biến đi bằng cách nào, ngay cả dấu vết cũng không nhìn thấy! ở Quảng Ngãi, cũng với trò chơi "cho cóc  hút thuốc", sau đó các em đem đến gần bốt địch, khi nghe tiếng cóc ho địch tưởng du kích, bộ đội vây liền xả súng bắn làm cho địch tiêu hao đạn dược, gây cho chúng tâm lý hoang mang, mất ngủ.

*
*   *

Bị thất bại trong chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", đế quốc Mỹ điên cuồng mở rộng chiến tranh, ồ ạt đưa lính Mỹ và quân đội các nước chư hầu vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam, đồng thời cho không quân và hải quân đánh phá có tính hủy diệt các cơ sở quân sự, kinh tế, văn hóa ở miền Bắc Việt Nam. Chúng đánh phá cả trường học, bệnh viện, đánh phá cả đê điều trong mùa mưa lũ. Nhiều trường học nằm sâu trong lòng miền Bắc xã hội chủ nghĩa cũng đã bị bom Mỹ phá hủy.

Cả nước có chiến tranh, thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng chống Mỹ, cứu nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và của Bác Hồ, tuổi trẻ các tỉnh, thành phố miền Bắc đã dấy lên phong trào "Ba sẵn sàng": sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng nhập ngũ, sẵn sàng đi bất cứ nơi nào Tổ quốc cần. Cùng với tuổi trẻ miền Bắc, tuổi trẻ miền Nam hăng hái tham gia phong trào "Năm xung phong": xung phong tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch, xung phong tòng quân giết giặc, xung phong trong các cuộc đấu tranh chính trị ở nông thôn cũng như đô thị, xung phong phục vụ tiền tuyến, vào các đội thanh niên xung phong công tác, phục vụ chiến trường, xung phong sản xuất nông nghiệp ở nông thôn.

Cùng với các anh, chị thanh niên, thiếu niên, nhi đồng hai miền Nam Bắc cũng đã sẵn sàng gánh vác những nhiệm vụ theo tinh thần tuổi nhỏ làm việc nhỏ tuỳ theo sức của mình trong thời điểm cả nước có chiến tranh. Các em thiếu nhi miền Nam có sáng kiến lập các "kho đạn bí mật" nhằm cung cấp đạn dược cho các cô chú bộ đội.

Đáng chú ý là hoạt động của các em thiếu niên, nhi đồng ở ven các vành đai diệt Mỹ bao quanh các căn cứ lớn, như Bình Đức (Mỹ Tho), Trảng Lớn (Tây Ninh), Bến Cát (Thủ Dầu Một), Chu Lai (Quảng Nam), Nước Mặn (Quảng Đà), ái Tử và hàng rào điện tử ở Quảng Trị... Tại những nơi này các em thường có những hoạt động táo bạo, làm nhiệm vụ trinh sát đưa đường cho các cán bộ, các đơn vị vũ trang của ta đi làm nhiệm vụ. Các em thiếu nhi miền Nam có trăm mưu, ngàn kế nhằm lấy vũ khí của địch để đánh địch, nhất là gỡ mìn cung cấp cho du kích.

Hồ Văn Nhánh là một thiếu niên, nhà ở gần căn cứ Đồng Tâm (Tiền Giang - còn có tên gọi căn cứ Bình Đức). Hàng ngày Nhánh đi chăn trâu gần căn cứ. Em chú ý quan sát và phát hiện trên hàng rào địch gài nhiều mìn và lựu đạn. Em nảy ra ý định gỡ trái mang về cho du kích. Nhưng không biết cách làm thế nào để gỡ được trái. Lần đầu tiên, Nhánh đào nguyên cả bệ đất đựng vào mo cau mang về. Dần dần được hướng dẫn, em tự gỡ được hàng ngàn quả mìn và lựu đạn các loại phục vụ du kích và bộ đội đánh trên 300 trận, diệt 130 tên Mỹ và nhiều tên nguỵ. Nhánh còn hướng dẫn cho em Dũng ở gần nhà cùng vào gỡ trái. Hai em đã vào ra căn cứ Mỹ tới 131 lần để gỡ trái. Một lần không may mìn nổ, hai em đã anh dũng hi sinh. Về sau Hồ Văn Nhánh đã được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.

Chỉ một huyện Điện Bàn (tỉnh Quảng Nam), một chi đội thiếu niên trong 8 tháng của năm 1968 đã chuyển cho đội du kích địa phương 13 khẩu súng. Riêng tháng 7 năm 1968 các em lấy được 9 khẩu súng của địch mang về cho du kích... Tại Củ Chi, trong tháng 4 năm 1969 các em đã chuyển cho xã đội 23 khẩu súng, có 1 súng đại liên...

Trong điều kiện không lấy được súng của địch thì các em tìm cách phá hỏng. ở xã Phước Thành (huyện Tân Uyên, Thủ Dầu Một), là một xã thuộc vùng sâu, vùng khó khăn của tỉnh. Dù vậy ở đây vẫn có tổ chức thiếu nhi bí mật thường xuyên hoạt động. Tháng 3 năm 1968 có 4 em thiếu nhi khi đi chăn bò, đã nhìn thấy trong một chốt của lính Mỹ có nhiều súng đạn, nhưng rất khó lọt vào để lấy mang ra, vì chúng kiểm soát gắt gao. Các em đã bàn nhau mua một bao Ruby, rồi lừa lúc buổi trưa khi bọn lính Mỹ ngủ say, các em châm cháy các điếu thuốc, để nguyên cả bao, giúi vào đống vũ khí có che vải nhựa. Thời tiết khô nóng, bao thuốc bốc lửa gây thành đám cháy, làm đạn trong kho vũ khí nổ liền 4 tiếng đồng hồ mới hết. 7 tên Mỹ bị giết chết. Cả đống vũ khí tan tành.

Cũng không ít thiếu niên miền Nam thời kỳ này đã cầm súng trực tiếp chiến đấu trong các lực lượng du kích và cả trong các đơn vị chủ lực Quân Giải phóng, trên khắp các chiến trường, các mặt trận và đã lập được nhiều chiến công xuất sắc.

Ngày 6-4-1964, em Hồ Thăng, một thiếu niên người dân tộc mới 14 tuổi tham gia du kích đã cùng đơn vị bắn rơi máy bay Mỹ và bao vây bắt sống tên đại úy Mỹ Pôoen Tôm - sơn. Vốn là một dân tộc gần như đã bị quên lãng giữa núi rừng miền Tây Thừa Thiên, nên dân tộc của Thăng không có họ. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đem lại ánh sáng tự do cho đồng bào các dân tộc. Để ghi nhớ công ơn của Bác Hồ, đồng bào đã lấy họ Hồ làm họ chung, làm con cháu Bác Hồ Chí Minh. Đế quốc Mỹ ngang nhiên đến chà đạp lên cuộc sống của bà con. Ai cũng căm phẫn, cũng muốn đánh, kể cả các em thiếu nhi. Thấy chiếc L19 của Mỹ lượn vòng thám thính, Hồ Thăng, dù tuổi còn nhỏ, vẫn kiên quyết tìm thế đứng, đợi khi nó sà thấp, nhằm bắn liền 2 phát bằng súng K44. Chiếc máy bay Mỹ trúng đạn bùng cháy, đây là chiếc máy bay Mỹ đầu tiên bị bắn rơi bằng súng bộ binh ở chiến trường Bình Trị Thiên, cũng là chiếc máy bay Mỹ bị súng bộ binh bắn rơi lần đầu tiên tại chiến trường miền Nam Việt Nam. Hồ Thăng được Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng. Sau đó Hồ Thăng
còn cùng đội du kích đánh địch nhiều trận và đã anh dũng hi sinh.

Học tập cách bắn của Hồ Thăng, phong trào bắn máy bay Mỹ bằng súng bộ binh được thiếu nhi các tỉnh, thành phố miền Nam phát huy triệt để trong mọi lúc, mọi nơi. Năm 1967, em Rít ở miền Tây Quảng Nam, bắn rơi 1 máy bay phản lực Mỹ. Cũng trong năm 1967, em Hoài ở huyện Bác ái (Ninh Thuận), mới 11, 12 tuổi đã muốn theo du kích đi đánh giặc. Nhưng vì em còn bé, còn thấp hơn cả cây súng, nên các anh không cho. Hoài vẫn không nản, cứ đi theo các anh, tìm cách học sử dụng súng. Khi máy bay phản lực Mỹ đến bắn phá căn cứ du kích, Hoài núp trong công sự, theo đúng cách các anh du kích dạy, bắn rơi ngay một chiếc máy bay phản lực khi nó đang bổ nhào.

Thành tích bắn rơi nhiều máy bay Mỹ bằng súng bộ binh của thiếu niên, nhi đồng miền Nam thời kỳ này phải kể tới em Khung, ở làng Tơla (KonTum), một trong những thiếu niên trẻ nhất trong các dũng sĩ diệt máy bay. Mới 12 tuổi, Khung đã lập kỷ lục bắn rơi nhiều máy bay và cũng nhiều loại máy bay nhất. Năm 1968, trong 2 ngày liên tiếp, với cây Bá đỏ (K44) Khung đã hạ 1 trực thăng cán gáo, 1 máy bay cánh quạt, 1 máy bay phản lực. Còn em Xi ở Quảng Ngãi, với cây súng CKC, cũng đã bắn rơi 1 máy bay L19, 1 trực thăng Mỹ...

Chiến công bắn rơi máy bay Mỹ của thiếu niên miền Nam nhiều khi không thể lường được. Có những kết quả thật bất ngờ. ở xã Ia Rung (huyện Chưpăh - Gia Lai) có em GLỡh, quê ở làng Maih, GLỡh sinh ra trong một gia đình có 5 anh em thì anh, chị và mẹ đã chết vì đói và bệnh tật. Cha bị địch bắt, bị đánh đập thành tật. Năm 1968, ở tuổi 11, GLỡh xin vào ở với đội du kích địa phương. Ngày em tham gia vào đội du kích, cha em chỉ dặn: "Mày đi du kích đánh Mỹ, đánh ngụy, phải đi đến cùng, không được bỏ về làng". Nhớ lời cha dặn, GLỡh đã nhiều lần lợi dụng mình còn nhỏ tuổi vào tận nơi bọn lính Mỹ trú quân, lân la làm quen với chúng, nắm tình hình mọi mặt bố phòng của địch về báo cho du kích vạch phương án tác chiến. Không biết chữ, GLỡh đánh dấu vào từng ngón tay, số quân, số súng, hầm hào, hàng rào sắt, bãi mìn... chính xác đến từng chi tiết. Có trận, nhờ đó du kích đã tiêu diệt được cả 2 đại đội lính Mỹ đang chốt ở khu đồi gần nước Ia Thu, làng Maih, quê GLỡh. Ngày 29-4-1971, ở tuổi 14, bất ngờ GLỡh đã dùng súng bộ binh bắn rơi 1 chiếc máy bay Mỹ. Không ngờ đó là chiếc máy bay chở tên tướng 3 sao Giôn Đinla của Mỹ đang đi thị sát chiến trường Tây Nguyên. Tiếp đó GLỡh còn bắn cháy thêm 1 chiếc trực thăng đến cứu đồng bọn và khi 1 tốp máy bay 3 chiếc phóng pháo từ hướng Pleiku bay tới tìm kiếm chiếc máy bay chở Giôn Đinla, một chiếc sà xuống thấp, cũng với 3 loạt đạn, GLỡh đã bắn vỗ mặt làm nó đâm nhào xuống đất, chỉ cách chiếc máy bay rơi trước đó vài trăm bước chân.

Trong chiến tranh ác liệt, mặc dù chưa đến tuổi cầm súng, nhưng chính sự tàn bạo của kẻ địch buộc các em phải tìm cách tiêu diệt chúng để bảo vệ mình. Em Y Noát, người dân tộc Êđê ở Buôn Đát, một làng chiến đấu nổi tiếng của Tây Nguyên, trong một lần vào rừng sâu hái cây cơ búc, cơ ban về cho mẹ đốt tro hòa nước chàm nhuộm quần áo thì gặp bọn biệt kích Mỹ, Ngụy. Chúng bắt em phải dẫn về làng tìm bắt du kích, nếu không chúng sẽ bắn bỏ. Không còn cách nào khác Y Noát phải dẫn chúng đi. Có Y Noát dẫn đường, bọn địch đều tránh được các bãi chông ở ngoài. Ông Y Đung chỉ huy đội du kích của buôn là cha của Noát không khỏi ngạc nhiên khi thấy con mình lại dẫn bọn Mỹ về buôn. Lại còn để chúng đi ngang nhiên đến vậy. Ông không thể biết chính Y Noát cũng đang tính toán từng bước đi. Khi đi đến cách cây kơ nia bên tay phải mấy bước chân, em bỗng dừng lại. Bọn địch cũng dừng theo, co cụm lại một đám. Bất ngờ Y Noát đạp mạnh vào hòn đá nằm giữa đường và nhanh chóng nằm rạp xuống. Hòn đá chính là nơi du kích đã cài chốt bẫy. Chốt bẫy được mở. Như một ánh chớp, một cây tre dài xé gió phạt ngang qua đầu Y Noát. Bọn biệt kích Mỹ, Ngụy chưa kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra thì chiếc cần bật bằng cây tre dài đã phạt ngang vào bụng 2 tên Mỹ, và toán đông đứng đầu, hất chúng xuống hầm chông tẩm nhựa tang nang. Toán đi sau nhớn nhác tháo chạy bị sập bẫy, sập hầm chông chết gần hết. Số còn lại bị tên tẩm thuốc độc và mũi súng bắn tỉa của Y Đung và đội du kích diệt gọn. Còn Y Noát, em đã nhanh nhẹn lao vào một lùm cây theo đường an toàn trở về buôn.

ở Cà Mau, em Nguyễn Văn Hải, một thiếu niên bị giặc bắt, biết em rành đường vào căn cứ, lại nghe tin Ban Chấp hành huyện ủy đang có mặt họp ở đó, chúng bắt em dẫn đường cho chúng, nếu không sẽ bị chúng giết chết. Hải đã giả vờ ngoan ngoãn dẫn chúng đi. Nhưng chúng không ngờ lại bị em dẫn vào bãi mìn. Mìn nổ. Không một tên giặc nào sống sót và Nguyễn Văn Hải đã anh dũng hy sinh.

Những năm tháng kháng chiến ác liệt, thiếu nhi miền Nam đã có nhiều cách lập công hết sức độc đáo, như em Liên, 13 tuổi đã vào du kích xã. Hàng ngày em thường chơi thân với lính Mỹ trong đồn, rồi lén lấy lựu đạn gài ngoài cổng đồn trước khi ra về. Bọn lính Mỹ đi càn, đụng lựu đạn nổ, 9 tên thương vong. Một lần cũng lấy lựu đạn nhưng Liên lại gài ngay trong đồn. Lựu đạn nổ làm 5 tên thương vong. Tính ra Liên đã khôn khéo lấy được 15 lựu đạn và 1 khẩu súng cho du kích. Bọn địch phát hiện ra hành động của em, tìm cách truy lùng nhưng không bắt được. Riêng em diệt được 14 tên Mỹ.

Em Thanh ở Quảng Ngãi hàng ngày đi chăn bò đã lén mang cơm cho cán bộ ở trong núi. Em hỏi các anh cán bộ cách gỡ lựu đạn địch gài. Lần đầu gỡ được 1 quả em mang ra cho các anh du kích, các anh khen Thanh tiếp tục vào ấp gỡ trái, chỉ một thời gian em đã gỡ được 180 trái lựu đạn trong ấp chiến lược gửi cho du kích.

Lính Mỹ đi câu, em lân la ăn cắp được 4 trái lựu đạn, đem cho du kích 3 trái, giữ lại 1 trái. Rồi theo dõi Mỹ đi săn, em gài trái, lính Mỹ đụng trái 4 tên chết. Em lân la chơi với lính Mỹ, lấy được 300 đồng. Em làm hầm chông, Mỹ sập hầm, 6 thằng bị thương. Em lấy cắp bản đồ Mỹ, nó biết đuổi theo, em lấy đá ném, trúng mũi lõ nó, chạy thoát. Em bắn chết 1 lính ngụy, giải thoát 1 cán bộ bị bắt.

Không chỉ từng cá nhân tự động lấy súng địch cung cấp cho du kích. ở nhiều địa phương có cả những chi Đội tổ chức lực lượng để lấy súng địch đánh địch. Một chi Đội TNTP mật ở Điện Bàn Quảng Nam trong tháng 8 - 1968 đã lấy cắp của địch 22 súng, 1 máy bộ đàm, diệt 31 lính địch.

ở xã Mỹ Phước, Bến Cát, Bình Dương, Đội thiếu nhi có 20 em (4 gái) các em chia thành từng tổ nhỏ: Tổ báo tin, tổ dỡ cơm, tổ mua đồ ăn cho du kích. Các em gỡ được 30 trái lựu đạn, 500 viên đạn cho du kích, rải 600 tờ truyền đơn. Các em còn dùng mìn đặt đánh 2 xe M113 của Mỹ, đánh 2 bót gác lính ngụy.

Khi trực tiếp cầm súng chiến đấu, thiếu niên, nhi đồng các tỉnh miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ cũng có những cách đánh vừa táo bạo, nhưng cũng thật mưu trí và cũng rất... thiếu nhi song đã lập được nhiều chiến công. Phát hiện tốp lính Mỹ đang phục kích, nửa đêm, chờ cả nhà đã ngủ yên, Võ Hường nhẹ nhàng bò dậy, cài mùng cẩn thận như vẫn có người đang ngủ trong đó, rồi lẻn ra vườn, lấy trái lựu đạn M26, đến chỗ bọn lính Mỹ phục kích. Hường bò lên một mô đất cao, ngay trên đầu bọn Mỹ, rút chốt an toàn quả lựu đạn thả xuống và rút êm về nhà trong khi bọn lính Mỹ la hoảng và vãi đạn tứ tung. Trận đó Võ Hường đã diệt được 3 tên Mỹ và làm nhiều tên bị thương. Võ Hường còn đánh nhiều trận khác, diệt 20 tên Mỹ, 1 xe bọc thép M. 118 và 1 xe tăng M. 41, trở thành 1 dũng sĩ diệt Mỹ tiêu biểu của Quảng Nam - Đà Nẵng.

ở Quảng Nam còn có em Hồ Thị Thu, tuổi nhỏ nhưng chí lớn. Khi giặc Mỹ chiếm đóng quê hương, gây nhiều tội ác với đồng bào, Thu đã không quản mình bé nhỏ, cướp cả súng của địch để đánh địch. Em còn dùng thuốc súng chế mìn, diệt được nhiều tên.

Tiêu biểu cho tinh thần 'Tuổi nhỏ chí lớn", mưu trí, dũng cảm tiến công địch của thiếu nhi miền Nam thời kỳ này có Kơpa Kơlơng, một thiếu niên người dân tộc Bana ở Gia Lai. Kơpa Kơlơng tham gia du kích năm 13 tuổi, là một thiếu niên giỏi đánh mìn, vót chông, gài thò, làm cạm bẫy. Lớn hơn một chút, Kơpa Kơlơng nhập ngũ, làm trinh sát cho bộ đội huyện Chưprông, có biệt tài bắn xiên táo. Em luôn chọn điểm cao thích hợp, bình tĩnh chờ địch đến gần, cách chừng 20 - 30 mét mới nổ súng. Có lần bắn 3 viên đạn em đã diệt được 5 tên địch... Lần đi trinh sát ở Plâyme, nhờ chọn được địa thế thích hợp, em bắn 2 viên đạn, diệt 4 tên biệt kích. Trong trận phục kích một trung đội địch trên đường đi khu dinh điền Lệ Ngọc, trận địa bị lộ. Thấy tình hình nguy hiểm Kơpa Kơlơng đã nhanh chóng giật mìn diệt một số tên địch, tạo điều kiện cho đơn vị rút về tuyến sau, còn mình ở lại kìm chân địch. Bị thương máu ra nhiều, em vẫn bình tĩnh tìm điểm cao thích hợp, diệt thêm một số tên địch rồi mới tìm cách trở về đơn vị.

Trong mọi tình huống Kơpa Kơlơng đều tìm mọi cách diệt địch đạt hiệu suất cao nhất. Có lần chỉ còn 3 viên đạn, em vẫn bám địch từ sáng đến chiều, đứng nấp cách địch chỉ 5 mét, chờ cho chúng tập hợp thành một hàng dọc, mới nổ súng, viên đạn đi xuyên táo, diệt một lúc 7 tên, tên còn lại bị thương. Đối với bọn lính Mỹ, Kơpa Kơlơng cũng có cách đánh thích hợp. Biết được bọn lính Mỹ khi tác chiến thường chiếm điểm cao. Kơpa Kơlơng thường bố trí mìn trên đường, rồi chiếm điểm cao trước, nằm phục chờ địch. Một lần, bọn Mỹ từ căn cứ Plơime hành quân, vấp phải mìn trên đường, đứa chết, đứa bị thương, số còn lại vội chạy lên chiếm điểm cao, liền bị Kơpa Kơlơng đang ém sẵn trên đó, ném lựu đạn vào đội hình, diệt tiếp 4 tên, khiến chúng hoảng sợ phải tháo chạy, bỏ dở cuộc hành quân.

Kơpa Kơlơng được ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang ngày 17-9-1967, với 6 chữ vàng "Tuổi thiếu niên, chí anh hùng".

Dũng cảm và mưu trí là những đức tính nổi bật của những thiếu nhi người dân tộc thiểu số "Tuổi nhỏ chí lớn" như Điểu Văn Cải, dân tộc Châu Ro, ở vùng Túc Trưng (nay là xã Phú Túc, huyện Phú Túc, Đồng Nai). Sớm chứng kiến những tội ác man rợ của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đối với gia đình và bà con làng xóm, lên 8 tuổi Cải đã mưu trí chuyển được tài liệu mật của cán bộ cách mạng giao qua cổng ấp có bọn lính đang kiểm soát gắt gao từng người ra vào. Tham gia du kích nhiều lần Điểu Cải đã cải trang vào tận hang ổ địch để tiêu diệt chúng. Trong đó có những lần chỉ một mình với cây súng bá đỏ anh vẫn ngang nhiên qua mắt địch để đánh vỗ mặt, làm chúng không kịp trở tay, như trận đánh chớp nhoáng làm sập cầu lô cốt đầu ấp Đức Thắng diệt 4 tên địch; hay trận đánh giặc giữa phiên chợ đông, chỉ sau một loạt đạn nổ giòn đã thấy 3 tên lính bảo an ngã gục, còn người bắn loạt đạn đanh gọn đó đã biến đi nhanh chóng, không ai kịp nhận mặt. Mọi người chỉ biết kêu lên "Kon Trô, Kon Trô, Điểu Cải về!"

Huyền thoại về Kon Trô Điểu Cải đã làm bọn địch mất ăn mất ngủ. Chúng tung mọi lực lượng lớn thám báo lùng sục khắp nơi để diệt tên "du kích trẻ con Điểu Cải". Tên phụ tá ấp Cây Xăng không bắt được Điểu Cải rất cay cú. Nó bắt nhiều người dân vô tội, chụp cho họ cái mũ Việt Cộng rồi bắn chết tại chỗ. Một hôm Điểu Cải cải trang thành một cảnh sát ngụy đột nhập vào một quán bar, nơi tên ác ôn đang ăn chơi trác táng. Khi tên ác ôn kịp nhận ra Điểu Cải thì hắn đã bị một mũi súng gí sát vào ngực. Chỉ trong nháy mắt hắn đã bị Điểu Cải bắt gọn.

Với ý chí dũng cảm và mưu trí, 16 tuổi Điểu Cải đã được giao trọng trách xã đội phó, phụ trách đội du kích, nhiều phen làm cho kẻ địch kinh hồn bạt vía. 18 tuổi anh trở thành một xã đội trưởng "gan cùng mình".


Anh hy sinh trong khi làm nhiệm vụ, đụng phải mìn định hướng do địch gài. Sau này Điểu Văn Cải được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.

Từ năm 1961, sau khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, các tổ chức quần chúng được thành lập, Đội Thiếu niên Tiền phong của thiếu niên, nhi đồng miền Nam Việt Nam cũng được hình thành ở nhiều cơ sở, trên cả 3 vùng. Không chỉ ở vùng giải phóng, mà cả ở những vùng giáp ranh, vùng địch tạm chiếm đóng, Đội Thiếu niên Tiền phong cũng được thành lập ở nhiều cơ sở, góp phần tổ chức thiếu niên, nhi đồng tham gia nhiều hoạt động thiết thực của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đến năm 1966, ở Khu Đoàn miền Tây đã có 270 chi đội thiếu niên, có 8.572 đội viên, trong đó có 3.116 đội viên nữ. Cùng thời gian, Liên khu Năm có 305 chi đội, với 35.035 đội viên. Riêng tỉnh Quảng Đà (Quảng Nam - Đà Nẵng) với 132 xã thì có 113 xã đã có chi đội thiếu niên tiền phong.

Được các cơ sở Đoàn hướng dẫn, tổ chức Đội ở nhiều địa phương đã có nhiều hoạt động phù hợp với lứa tuổi các em, tổ chức thiếu niên, nhi đồng tham gia mọi công tác kháng chiến. Trong các vùng địch tạm chiếm đóng, nhiều chi đội thiếu niên đã tổ chức thành những Đội thiếu niên du kích bí mật, làm nhiệm vụ nắm tình hình địch, giúp đỡ các anh chị du kích đánh địch có hiệu quả. Khi có điều kiện đội du kích thiếu nhi của các em cũng tham gia đánh địch. Nhiều trận đánh của các em đã có tiếng vang lớn, làm chính kẻ địch được trang bị đầy đủ vũ khí hiện đại cũng phải lo sợ.

Các đội thiếu nhi du kích của phân khu I (gồm Củ Chi, Trảng Bàng, Bến Cát, Dầu Tiếng) hoạt động bí mật ngay trong lòng địch, đã nhiều lần tổ chức đặt trái, diệt nhiều xe tăng. Trong đó Đội du kích mật của thiếu nhi Trảng Bàng diệt 5 chiếc, Củ Chi diệt 5 chiếc. Các đội du kích mật của thiếu nhi Bến Cát, Dầu Tiếng, mỗi nơi diệt 1 chiếc. Nhiều tên Mỹ chết và bị thương. Riêng các em thiếu nhi du kích Dầu Tiếng đặt mìn diệt một lúc 50 tên lính Mỹ và lính Ngụy. Có 31 em thiếu nhi trong phân khu đạt danh hiệu dũng sĩ. Trong đó có một em ở Trảng Bàng, 15 tuổi đã diệt được 97 tên lính Mỹ.

ở Quảng Nam - Đà Nẵng, quê hương người thợ điện anh hùng Nguyễn Văn Trỗi. Sau khi anh Trỗi bị chế độ Ngụy ở Sài Gòn giết hại đã dấy lên phong trào thi đua diệt Mỹ để trả thù cho anh. Nhiều đội du kích thiếu niên mang tên anh Trỗi đã ra đời và đã có nhiều hoạt động táo bạo làm cho kẻ địch hoang mang lo sợ không biết sẽ tấn công vào lúc nào. Đội Thiếu nhi du kích Nguyễn Văn Trỗi ở xã B (Quảng Nam), có 4 em, trong 7 ngày, từ 8 đến 15- 8 - 1968 đã diệt 15 tên địch, thu 4 súng. Các em còn tự làm lấy mìn, đánh 2 xe địch, diệt 20 tên. Những tháng cuối năm 1968, các em liên tiếp đánh địch nhiều trận khác, diệt 47 tên địch... Tổ được tặng danh hiệu Tổ dũng sĩ cấp ưu tú.

ở Điện Bàn, tổ thiếu niên du kích xã T có 6 em, trong 6 tháng đã diệt 80 tên ác ôn lính Mỹ, Ngụy, được tặng thưởng Huân chương Giải phóng hạng Nhất. Cũng ở Điện Bàn, Đội thiếu niên du kích Bích Bắc đã đánh địch trên 100 trận, trận nào cũng lập công, diệt 153 lính Mỹ, Ngụy. Trong đó có 1 em diệt được 47 tên, được tặng danh hiệu dũng sĩ và chiến sĩ thi đua giết giặc của Quân khu V.

Không chỉ ở Khu V, ở nhiều nơi khác, các đội du kích thiếu niên cũng đã ra đời và có nhiều hoạt động táo bạo. Đội thiếu nhi du kích của Sở cao su Bình Sơn, tỉnh Biên Hòa, hoạt động trong lòng địch đã từng đột nhập phá 3 buổi chiếu phim phản động của bọn Mỹ - Ngụy, phá huỷ 1 xe tăng, giết chết 15 tên Mỹ, thu 7 súng và hàng ngàn viên đạn, được Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng tặng bằng khen. Đội Thiếu nhi du kích Cầu Khởi, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, chỉ riêng năm 1968 đã diệt 10 xe thiết giáp địch, giết chết 40 tên lính Mỹ, thu 2 súng.

Còn ở Hải Lăng (Quảng Trị), sau cuộc Tổng tấn công và nổi dậy của quân và dân miền Nam Tết Mậu Thân 1968, kẻ địch điên cuồng phản công ác liệt. Chúng cho cả một đoàn xe đến đóng ở Rùa Hạ (xã Thượng Xá). Hai em thiếu nhi Thống và Lộc đã tìm cách nắm tình hình đóng quân của địch báo cho du kích và bộ đội tổ chức đánh địch, diệt một lúc 120 xe bọc thép của Mỹ. Khi bị địch bắt vào phòng vệ dân sự, Thắng và Lộc vẫn tìm cách bắt liên lạc với du kích và cơ sở cách mạng, tổ chức đánh địch, làm tan rã hoàn toàn toán phòng vệ dân sự 50 tên của địch.

*
*   *

Thời kỳ tiến hành chiến lược "Chiến tranh cục bộ", không những đế quốc Mỹ đã sử dụng nhiều thủ đoạn hết sức tàn bạo đối với nhân dân miền Nam Việt Nam, mà chúng còn mở rộng đánh phá có tính hủy diệt nhiều cơ sở kinh tế, quốc phòng trên miền Bắc, nhằm ngăn chặn sự chi viện sức người sức của của hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam. Trong cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân của Mỹ chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có chủ quyền, nhiều trường học, nhiều cơ sở vui chơi của các em thiếu niên, nhi đồng cũng đã bị tàn phá nặng nề. Không ít cơ sở đã bị hủy diệt hoàn toàn. Chỉ riêng ở Nghệ An, chưa đầy 6 tháng, từ tháng 4 đến tháng 9 năm 1965, đế quốc Mỹ đã đánh phá vào 40 trường học, trong đó 100% số trường học ở thành phố Vinh hoàn toàn bị phá hủy. Ngày 23 - 9 - 1965, máy bay Mỹ đã đánh phá dã man trường phổ thông cấp I - II Quỳnh Tiến ngay trong giờ các em đang học, làm 5 em học sinh cấp I (tiểu học), 11 em học sinh cấp II ( THCS) và 3 giáo viên bị chết; 26 học sinh cấp I, 10 học sinh cấp II bị thương.

ở Hà Tĩnh đã có gần 400 trường học bị máy bay Mỹ đánh phá. Ngày 9-2-1966, máy bay Mỹ ném bom vào trường cấp II Hương Phúc (Hương Khê) làm chết một lúc 33 em học sinh, trong đó có 7 em mất tích, 1 thầy giáo và 24 em học sinh khác bị thương...

Nhưng chính trong những điều kiện khó khăn, thử thách đó, thực hiện lời dạy của Bác Hồ kính yêu "Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt", thầy và trò các trường học trong tất cả các địa phương trên toàn miền Bắc, từ đồng bằng ven biển đến miền núi cao, từ thành thị đến nông thôn cả trong những vùng trọng điểm máy bay Mỹ thường xuyên đánh phá có tính hủy diệt, đã kiên cường bám trường, bám lớp, bảo đảm thực hiện thi đua "hai tốt" trong mọi tình huống. Nhiều trường đã thực hiện "vác trường lên vai đi sơ tán", đến những vùng sâu vùng xa, nơi địch ít đánh phá, tổ chức dạy và học. Những trường không có điều kiện sơ tán đến nơi học an toàn thì tổ chức đào hầm hào xung quanh lớp học để khi báo động, từ trong lớp học ra nơi trú ẩn an toàn. Không học được ban ngày, nhiều trường tổ chức cho các em học ban đêm. Không thắp được đèn để học, các em dùng đèn chai, lấy giấy bọc xung quanh, chỉ chừa một lỗ nhỏ vừa đủ ánh sáng chiếu xuống trang vở. Để tránh bom đạn địch sát thương, các em làm mũ rơm để đội. Đội mũ rơm trên đường đến trường. Đội mũ rơm khi đi sinh hoạt, trong những lúc làm kế hoạch nhỏ, và dĩ nhiên cả khi ra trận địa, cung cấp lá ngụy trang, giẻ lau súng cho các anh bộ đội. Chiếc mũ rơm trong những năm kháng chiến chống Mỹ trở thành như một biểu tượng của ý chí Việt Nam, ý chí ham học, ý chí quyết thắng bom đạn kẻ thù. Rất nhiều trường hợp, bom đạn Mỹ, kể cả loại bom có khả năng sát thương hàng loạt như bom bi, cũng phải chịu thua lực cản của vành mũ rơm trên đầu các em nhỏ. Nhờ đó mà ngay trong những thời điểm địch đánh phá ác liệt nhất, hàng chục vạn thiếu niên các tỉnh, thành phố miền Bắc ngày ngày vẫn bền bỉ đến trường đến lớp. Phần lớn trên đầu các em đều đội mũ rơm, như một công cụ bảo vệ của một thời đạn bom,. Nhiều em sau này đã trở thành nổi tiếng, trở thành những tài năng trên nhiều lĩnh vực văn hóa, khoa học kỹ thuật, khi còn đi học trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cũng đã từng đội chiếc mũ rơm đến trường, cũng đã từng theo trường đi học ở nơi sơ tán, với những bữa cơm độn mì độn khoai, như trường hợp nghệ sĩ nhân dân Đặng Thái Sơn, từng đoạt giải khôi nguyên trong cuộc thi đàn Pianô quốc tế mang tên nhạc sĩ thiên tài Chopin.

Trong điều kiện máy bay Mỹ đánh phá ngày càng ác liệt, thiếu niên, nhi đồng xã Nghi Hương nêu quyết tâm "Đội bom đi học", đảm bảo chương trình học trong mọi tình huống. "Đội bom đi học", thiếu niên, nhi đồng ở Nghệ An, ở nhiều tỉnh, thành phố khác trong điều kiện chiến tranh ác liệt vẫn đảm bảo ngày ngày đội mũ rơm đến trường thi đua học tập và rèn luyện theo "5 điều Bác Hồ dạy". Số thiếu niên đến trường hàng năm vẫn không ngừng tăng. Riêng tỉnh Nam Hà (Hà Nam, Nam Định ngày nay) số học sinh đến trường năm học 1965 - 1966 tăng 3,6% so với năm học 1964 - 1965. Xã Nghĩa Phong (Nghĩa Hưng) trong một năm trường học bị đánh phá tới 22 lần, học sinh vẫn tới trường tới lớp đầy đủ, vẫn đảm bảo dạy tốt và học tốt. ở Hà Tĩnh số học sinh đến lớp vẫn thường xuyên đạt trên 90%. ở Quảng Ninh trong năm đầu không quân Mỹ mở rộng đánh phá miền Bắc (1965), cả tỉnh có 317 trường học phổ thông các cấp, với 2.362 giáo viên và 47.862 học sinh đến trường, thì sau 10 năm, đến năm 1975, toàn tỉnh đã có 130.692 học sinh và 4.687 thầy, cô giáo dạy và học trong 384 trường.

Phong trào "Dạy tốt và học tốt" phát triển, thu hút hàng vạn các em thiếu niên, nhi đồng vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách để vươn lên trở thành những con ngoan, trò giỏi. ở Nghệ An, em Hoa Xuân Tứ, từ nhỏ bị tai nạn cụt cả 2 tay. Không cam chịu số phận, em đã kiên trì rèn luyện để được cắp sách đến trường như nhiều bạn bè cùng lứa. Không còn tay để cầm bút, Hoa Xuân Tứ kẹp bút vào giữa vai và má kiên nhẫn tập viết, phấn đấu trở thành một học sinh học giỏi toàn diện, luôn có ý thức rèn luyện đạo đức, được thầy cô và bạn bè quý mến. Trong nhiều năm thiếu niên, nhi đồng ở nhiều tỉnh, thành phố trên miền Bắc đã dấy lên phong trào thi đua học tập tấm gương vượt khó học giỏi của Hoa Xuân Tứ, phấn đấu trở thành những học sinh phát triển toàn diện.

Tháng 1 - 1967, Hoa Xuân Tứ vinh dự được thay mặt hàng vạn "Cháu ngoan Bác Hồ" dự Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước lần thứ nhất và được gặp Bác Hồ kính yêu. Cùng có vinh dự như Hoa Xuân Tứ còn có Trần Thị Vệ, cháu ngoan Bác Hồ tỉnh Thanh Hóa, dũng cảm cứu bạn khi máy bay Mỹ ném bom; Trần Quốc ý, một thiếu niên của Nghệ An, trong khi máy bay Mỹ đang điên cuồng đánh phá, vẫn lao ra cứu bạn; Đinh Thị Lệ Kim, một học sinh chăm ngoan, học giỏi của Hải Phòng; Phạm Thị Kiều Oanh, một thiếu niên của Hà Nội, trong gia đình là một con ngoan, ở trường là một trò giỏi, trong công tác Đội là một con người năng nổ, có sức cuốn hút các bạn; Bùi Thị Hải, là một thiếu niên dân tộc Mường của tỉnh Hòa Bình, luôn được bạn bè quý mến nhờ có phương
pháp học tập tốt, năm nào cũng đạt học sinh giỏi, trong mọi việc đều chăm chỉ... Các em là những "Cháu ngoan Bác Hồ" tiêu biểu, luôn nỗ lực phấn đấu, rèn luyện theo "5 điều Bác Hồ dạy".

Phong trào thi đua hai tốt "Dạy tốt và học tốt", trở thành mục tiêu phấn đấu của các trường học trong những năm kháng chiến chống Mỹ gian khổ, ác liệt. Các cơ sở Đoàn đã kết hợp với nhà trường tổ chức giáo dục các em thiếu niên, nhi đồng ý thức công dân, không ngừng nâng cao tinh thần học tập và tham gia lao động, tham gia phục vụ chiến đấu trong từng điều kiện thích hợp. Các hoạt động theo chủ đề tiếp tục được mở rộng. Khi quân và dân ta ở miền Nam thắng lớn, các em có chủ đề: "Vì miền Nam rực lửa chiến công, nguyện làm chiến sĩ nhỏ thắng Mỹ", phấn đấu nâng cao chất lượng từng tiết học, giờ học. Các em coi "đi học là đánh Mỹ", giành nhiều điểm 5, điểm 10... thi đua cùng các anh bộ đội và dân quân bắn rơi nhiều "thần sấm", "con ma" Mỹ. ở Sơn La các em thực hiện "hai giờ vàng ngọc", phấn đấu không ngừng nâng cao chất lượng học bài, ôn bài. ở trường cấp II Cẩm Bình (Hà Tĩnh) các em phấn đấu kết hợp chặt chẽ giữa học và hành, luôn gắn bó chặt chẽ với các hoạt động ngoài xã hội, tích cực tham gia mọi công tác sản xuất, cũng như phục vụ chiến đấu và nhiều công tác xã hội khác, đảm bảo thường xuyên dạy tốt và học tốt, góp phần phấn đấu xây dựng nhà trường và địa phương trở thành lá cờ đầu của ngành giáo dục miền Bắc những năm đánh Mỹ, được Bác Hồ tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì, tháng 1 - 1967.

Phong trào phấn đấu trở thành "Cháu ngoan Bác Hồ" phát triển mạnh ở hầu khắp các địa phương. Được sự hướng dẫn của tổ chức Đoàn các cấp, các em thường xuyên đẩy mạnh phong trào "Nói lời hay, làm việc tốt", phấn đấu trở thành cháu ngoan Bác Hồ". Ngoài nhiệm vụ học tập thường xuyên được các em duy trì thành nền nếp, thiếu niên và nhi đồng các tỉnh, thành phố trên miền Bắc thời kỳ này còn đẩy mạnh nhiều hoạt động thiết thực góp phần cùng quân và dân các địa phương trong nhiệm vụ chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, trong các hoạt động chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam về tinh thần cũng như vật chất, và trong nhiệm vụ xây dựng, củng cố hậu phương lớn miền Bắc.

Công tác Trần Quốc Toản thời kỳ này đã có những nội dung và cách làm mới, thiết thực và phong phú. Tùy theo từng hoàn cảnh, tổ chức Đội thiếu niên, Nhi đồng ở các cơ sở đã tiến hành điều tra nắm chắc số lượng các gia đình chính sách trên địa bàn dân cư, phân loại từng đối tượng cần giúp đỡ. Không những qua đó các em có kế hoạch phân công giúp đỡ một cách thiết thực đối với từng đối tượng, mà các em còn góp phần phát hiện cho địa phương những việc làm sai chính sách trong công tác thương binh, xã hội.

ở nhiều địa phương, tổ chức Đội Thiếu niên Tiền phong sau khi điều tra nắm chắc tình hình các đối tượng chính sách đã phân công trách nhiệm cho từng phân đội nhỏ theo từng địa bàn dân cư, một xóm, một đường phố. Hơn thế phân công đến từng đội viên phụ trách từng gia đình cần giúp đỡ. Chỉ những việc lớn các em mới tổ chức cho cả chi đội, phân đội tập trung đến giúp. Thường đó là những công việc đột xuất. Những công việc thường xuyên, như gánh nước, dọn dẹp nhà cửa, và cả những công việc như đi xếp hàng mua thực phẩm, đong gạo... các em đều phân công cố định cho một số em, thường là từ 1-2 em phụ trách giúp đỡ một gia đình.

Thực hiện lời Bác Hồ dạy "... giúp đỡ đồng bào tức là tham gia kháng chiến. Và do đó, các cháu sẽ luyện tập tinh thần siêng năng và bác ái để sau này thành người công dân tốt...", trong thư Người gửi thiếu niên, nhi đồng tháng 2 - 1948, khi Người khuyên các em tổ chức những "Đội Trần Quốc Toản", thiếu niên, nhi đồng các tỉnh, thành phố miền Bắc thời kỳ cả nước có chiến tranh đã có nhiều phương thức làm công tác Trần Quốc Toản, không những thiết thực giúp đỡ gia đình chính sách có khó khăn mà còn góp phần làm yên lòng các anh, các chị ra trận, vì biết bố mẹ mình ở nhà đã thường xuyên có người đến chăm nom chu đáo. Các em thường tổ chức thực hiện theo các chủ đề hết sức sinh động, như "Uống nước nhớ nguồn", hoặc "Tháng đền ơn đáp nghĩa", rồi "Tháng thăm một lần, tuần làm một việc"... Nhiều gia đình chính sách, nhờ đó, mặc dù neo đơn, phần lớn chồng, con đều đã ra mặt trận vẫn thấy ấm lòng, không phải lo toan vất vả đến từng gánh nước, con gà. Những công việc đó đã có các em trong Đội Trần Quốc Toản giúp sức. Nhiều em đội viên đi học về, chưa kịp cất sách vở đã đến ngay các gia đình chính sách được phân công quét tước sân vườn, thu dọn nhà cửa, cho lợn, cho gà ăn... tươm tất đâu đó mới về lo việc nhà mình.

Phong trào xây dựng Hợp tác xã Măng non thời kỳ này cũng được phát triển lên một bước, với nhiều nội dung mới: nuôi gà chống Mỹ, chăn nuôi trâu bò béo khỏe... Năm học 1967 - 1968, đã có 1.100 Hợp tác xã Măng non được phát triển ở các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng, vùng trung du và ven biển, thu hút hàng chục vạn xã viên là thiếu niên, nhi đồng. Trong 6.000 em trực tiếp nhận chăm sóc trâu bò béo khỏe đã có 2.000 em được biểu dương khen thưởng. Nhiều địa phương đã tổ chức các cuộc thi trâu bò béo khỏe giữa các chi đội, Liên chi đội để các em có dịp trao đổi, thi đua với nhau làm cho phong trào ngày càng có hiệu quả thiết thực. Phong trào xây dựng Hợp tác xã Măng non phát triển không chỉ góp phần giáo dục các em ý thức trách nhiệm công dân, mà thực sự đã hỗ trợ nhiều mặt cho các hợp tác xã sản xuất nông nghiêp, tiểu thủ công nghiệp giải quyết được nhiều vấn đề trong lúc cả nước đang phải tập trung sức người cho nhiệm vụ đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Chỉ riêng tỉnh Vĩnh Phú (Vĩnh Phúc, Phú Thọ ngày nay) đến năm 1973 đã có tới 2.592 Hợp tác xã Măng non, đóng góp với các hợp tác xã 1.083. 340 ngày công, gần bằng 20% số ngày công của các xã viên lớn tuổi.

Thời kỳ cùng quân và dân đẩy mạnh sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng với nhiệm vụ học tập và tham gia các công tác xã hội, thiếu niên, nhi đồng các tỉnh, thành phố trên toàn miền Bắc cũng là những người tích cực tham gia các hoạt động thể dục, thể thao, văn hóa văn nghệ, thực hiện việc giáo dục thể chất theo kinh nghiệm và phong trào thiếu nhi của nhiều nước xã hội chủ nghĩa. Tổ chức Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam đã cùng Bộ Giáo dục, ngành thể dục thể thao và các ngành liên quan phát động rộng rãi phong trào rèn luyện thân thể theo 4 môn phối hợp (chạy 60 mét, nhảy xa, nhảy cao và ném bóng 150 gam). Hàng năm để phát triển phong trào, các trường phổ thông cơ sở và sau đó là các huyện, các tỉnh và cả toàn quốc đều tổ chức thi đấu để chọn những vận động viên tiêu biểu. Sau này phong trào đã phát triển thành "Hội khỏe Phù Đổng". Nhiều vận động viên nhỏ tuổi trưởng thành qua phong trào rèn luyện theo tiêu chuẩn 4 môn phối hợp về sau đã trở thành những vận động viên tài năng, đóng góp nhiều thành tích cho nền thể thao nước nhà.

Nhiều môn thể thao được chú ý phát triển, như môn bơi lội, các em có cuộc vận động "Toàn Đội biết bơi". Nhiều làng quê, nhiều trường học đã biết lợi dụng địa thế, sông ngòi, bờ biển tổ chức cho các em học bơi lội. Nhiều địa phương còn tạo ra những "bể bơi" đơn giản để các em có điều kiện tập luyện, như Minh Tân (Hải Phòng), Nam Chính (Hải Dương), Quỳnh Đôi (Nghệ An). Nhiều em trưởng thành từ phong trào đã lập được nhiều thành tích xuất sắc, như Trần Thị Huyền, 2 lần đạt danh hiệu kiện tướng bơi lội, giành liên tiếp 5 Huy chương Vàng trong các kỳ thi đấu.

Bóng bàn cũng là môn được chú ý phát triển, thu hút nhiều em thiếu niên, nhi đồng tham gia tập luyện. Ngày 5 - 8 - 1964, đúng ngày đế quốc Mỹ cho không quân mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc Việt Nam, cũng là ngày khai mạc giải bóng bàn mang tên giải Báo Thiếu niên Tiền phong lần thứ nhất và từ đó trở thành giải truyền thống của thiếu niên, nhi đồng, góp phần đào tạo nên nhiều vận động viên tiêu biểu cho bộ môn bóng bàn nước ta, như Trần Văn Quỳnh, Nguyễn Đình Phiêu, Nguyễn Hồng Nga, Nguyễn Thu Nga...

Cũng như thiếu niên, nhi đồng miền Nam, những năm tháng cả nước cùng đánh Mỹ, thiếu niên, nhi đồng các tỉnh, thành phố miền Bắc cũng đã phải nhiều lần cầm súng và nhất là nhiều thời gian các em phải bỏ dở cả nhiệm vụ học tập để phục vụ chiến đấu, đến các trận địa phòng không động viên các chiến sĩ, thu gom giẻ lau súng, hái lá ngụy trang, tham gia trồng cây bảo vệ các tuyến đường giao thông, bảo vệ cầu cống, nhà kho... ở Hà Tĩnh, trong nhiều trường học, các em có phong trào "Cây Trung thu thắng Mỹ", hoặc "5 con gà thắng Mỹ". Phong trào đã thu hút hầu hết thiếu niên, nhi đồng trong tỉnh tham gia dưới nhiều hình thức. Hàng năm đều có tổng kết thi đua khen thưởng, rút kinh nghiệm, mở rộng phong trào. Phong trào trồng cây, nuôi gà chống Mỹ cũng được phát triển ở nhiều địa phương. Một mặt các em tham gia "Tết trồng cây" cùng các anh, chị, mặt khác các em tổ chức chăm sóc những cây đã trồng, thực hiện "đoạn đường em nuôi", "vườn cây em chăm"... thường xuyên rào chắn, không để trâu bò phá hoại, không cho người bẻ cành.

Phong trào lấy lá ngụy trang, thu gom giẻ rách cho các anh bộ đội, cho dân quân tự vệ trực chiến lau súng thì ở đâu cũng có. Nhiều lần máy bay Mỹ đánh phá vào trận địa, khói bom mù mịt, các em thiếu nhi địa phương vẫn không quản ngại nguy hiểm, băng ngay đến, băng bó cho những người bị thương, tiếp tế nước cho các pháo thủ. Có em còn cởi cả áo của mình nhúng vào nước, đắp lên nòng pháo làm giảm nhiệt để các anh bộ đội chiến đấu được liên tục, chính xác. Nhiều em đã sẵn sàng hy sinh cả tính mạng trong khi phục vụ chiến đấu. Hàm Rồng là một trọng điểm máy bay Mỹ thường xuyên tập trung đánh phá có tính hủy diệt trong suốt những năm chúng tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc. Em Lê Thị Hoàn, nhà ở Nam Ngạn (bờ phía Nam cầu Hàm Rồng), 15 tuổi, mỗi lần máy bay Mỹ đánh phá ác liệt cầu Hàm Rồng, em đều có mặt tiếp tế cơm nước, mang lá ngụy trang cho các trận địa chiến đấu. Một lần khi em vừa mang nước ra trận địa chưa kịp trao ca nước cho một pháo thủ thì máy bay giặc Mỹ ập đến cắt bom, em đã hy sinh trong tư thế đang trao ca nước. Cũng ở Thanh Hóa còn có em Nguyễn Văn Thịnh, (Quảng Xương) ngay khi máy bay Mỹ đang đánh phá trận địa pháo, vẫn không quản nguy hiểm, đã như một con thoi chạy đi chạy lại, tham gia tiếp đạn và cứu chữa thương binh.

Có cả những em thiếu nhi đã trực tiếp cầm súng bắn rơi máy bay Mỹ, như Nguyễn Văn Lộc và các bạn trong tổ chăn trâu ở xã Quảng Đông (Quảng Trạch, Quảng Bình). Thường ngày đi chăn trâu các em vẫn để ý quan sát các anh dân quân thao tác bắn; máy bay Mỹ bất ngờ tập kích vào trận địa, Lộc đã chỉ huy tổ chăn trâu của mình dùng súng 12,7 ly bắn rơi 1 chiếc A4F. Cả tổ được khen thưởng. Riêng Nguyễn Văn Lộc được thay mặt các bạn đi dự trại hè ở Liên Xô.

Nhiều đội viên thiếu niên, nhi đồng đã sẵn sàng hy sinh cả tính mạng để bảo vệ bạn mình, bảo vệ những em bé nhỏ tuổi khỏi bị bom Mỹ giết hại. ở Hải Phòng đó là em Trịnh Văn Hòa, một đội viên thiếu niên đã lấy thân mình che bom bi cứu sống một em nhỏ, còn mình thì hy sinh anh dũng. Đặc biệt là tấm gương hi sinh của Nguyễn Bá Ngọc (Quảng Xương, Thanh Hóa) đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần sẵn sàng hy sinh chiến đấu của các em thiếu nhi trên cả hai miền Nam Bắc. Nguyễn Bá Ngọc là một học sinh chăm ngoan, chịu khó trong học tập và giúp đỡ gia đình. Trong một trận máy bay Mỹ đánh phá ác liệt, đang trên đường đi học về, nghe tiếng khóc của một em nhỏ, Nguyễn Bá Ngọc đã không ngần ngại băng đến lấy thân mình che chở cho em khi một quả bom bi nổ gần. Nhiều viên bi đã găm
khắp cơ thể Ngọc. Ngọc đã hy sinh nhưng em nhỏ thì được cứu sống.

Có nhiều tấm gương thiếu nhi đã dũng cảm hy sinh giống như Nguyễn Bá Ngọc. Em Nguyễn Thị Lan (Quảng Xương) đã cứu sống 4 em bé và cùng các anh chị dân quân trong xã ngụy trang xác máy bay Mỹ, sau đó còn đi tuyên truyền tin chiến thắng cho bà con nghe. Các em Hoàng Thị Hợi, Nguyễn Thị Minh Hồng (Nông Cống) không quản nguy hiểm đã tham gia cùng các anh chị lớn tuổi đào bom nổ chậm, cứu người bị thương, cứu chữa kho hàng... Các em tuy còn nhỏ tuổi nhưng đã nêu những tấm gương về tinh thần sẵn sàng hy sinh vì người khác.

Bên cạnh những tấm gương sẵn sàng hy sinh vì bạn, vì những em bé của nhiều đội viên thiếu niên, nhi đồng, nhiều hành động quả cảm của các thầy cô giáo, quên mình vì đàn em thân yêu trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ ác liệt, cũng đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng nhiều thế hệ học sinh. Bên cạnh những thầy giáo, cô giáo, nhiều anh chị em phụ trách nỗ lực vượt qua khó khăn, vươn lên tự học tập nâng cao kiến thức, trở thành giáo viên giỏi trong nhiều năm, như thầy giáo Phạm Thế Hùng, trường An Tiến, thầy giáo Hoàng Mai Kiểm, trường cấp II (THCS) Đại Thắng, Tiên Lãng (Hải Phòng)... nhiều thầy, cô giáo đã không quản hy sinh cả tính mạng mình để bảo vệ học sinh, như thầy Bùi Xuân Thảo (trường cấp II Kênh Giang, Thủy Nguyên, Hải Phòng), trên đường đến trường bị thương nặng do bom Mỹ, trước khi trút hơi thở cuối cùng thầy vẫn bình tĩnh dùng bàn tay giập nát lấy chìa khóa trong túi đưa cho đồng chí Bí thư Đảng ủy nhà trường về mở ngăn kéo lấy đầu bài thi cho học sinh. Đặc biệt trong điều kiện sơ tán, phần lớn các em học sinh không có bố mẹ đi theo chăm sóc, sự quan tâm bảo vệ các em của các thầy cô giáo càng trở nên quý giá. Nhiều thầy, cô giáo trường Việt Hải (Cát Bà, Hải Phòng) trong điều kiện sơ tán phải ăn cơm muối với rau rừng hàng tháng, vẫn miệt mài cùng các em học sinh đảm bảo "dạy tốt, học tốt". Các thầy, cô giáo không chỉ truyền thụ kiến thức văn hóa cho học sinh mà còn là những cán bộ quản lý công tác phòng tránh cho các em, đôi khi phải làm cả nhiệm vụ của người y tá, cứu thương và khi cần che chắn cho học sinh khỏi bị bom Mỹ giết hại. Cô giáo Long Thị Ngọc ở Quảng Ninh trong một lần bom Mỹ đánh vào lớp học đã quên mình bảo vệ từng em học sinh, đưa các em ra hầm trú ẩn an toàn, đến khi bị thương vẫn không rời nhiệm vụ.

Cùng với việc đẩy mạnh phong trào thi đua "dạy tốt và học tốt", công tác xây dựng Đội trong nhà trường được quan tâm phát triển. ở Nghệ An đến năm 1966 đã có 377 tiểu ban thiếu niên, nhi đồng được thành lập ở cơ sở, góp phần chăm sóc, bảo vệ các em, nhất là trong điều kiện địch thường xuyên đánh phá ác liệt. ở 13 huyện, thị xã trong tỉnh đã có 42% các trường cấp I và 73% số trường cấp II có tổ chức Đội. Cùng thời gian có 63% các em học sinh cấp II được vào Đội Thiếu niên Tiền phong, 30% các em học sinh đầu cấp I được vào Đội Nhi đồng. Đến năm 1968 số học sinh cấp I và cấp II vào Đội đã tăng lên đến trên 80 - 90%. Nhiều trường như ở Diễn Minh (Diễn Châu), Quỳnh Bá (Quỳnh Lưu)... 100% các em được vào Đội. ở tỉnh miền núi Sơn La, tổ chức Đội trong nhà trường đã thu hút trên 50% các em thiếu niên, nhi đồng thường xuyên tham gia các hoạt động thiết thực, bổ ích. Tổ chức Đoàn các cấp đã phối hợp với nhà trường lựa chọn những giáo viên là đoàn viên thanh niên có nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm trực tiếp phụ trách công tác Đội, tổ chức, hướng dẫn các em đẩy mạnh tham gia các hoạt động gắn với những nhiệm vụ của địa phương trong sản xuất và chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ.

Nhằm góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ phụ trách Đội, cùng với việc thường xuyên mở các lớp tập huấn đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ phụ trách các cấp, từ năm 1965 đến năm 1969, được sự đồng tình, ủng hộ của ngành giáo dục và trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trong 3 niên khóa liên tục, Đoàn đã gửi gần 200 cán bộ Đoàn và một số sinh viên nhiệt tình với công tác Đội đến đào tạo tại khoa tâm lí - giáo dục học, chuẩn bị đội ngũ cán bộ có hiểu biết về khoa học giáo dục cho các trường huấn luyện cán bộ Đoàn, các trường cao đẳng sư phạm, làm nòng cốt đưa việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phụ trách Đội trong trường học  đi vào nền nếp. Nhờ đó, chất lượng đội ngũ cán bộ phụ trách Đội trong trường học ngày càng được nâng cao, không những có nhiệt tình, còn có những kiến thức chuyên sâu, góp phần làm cho hoạt động Đội trong trường học luôn tạo được những nét mới, năng động và tự chủ, có sức cuốn hút thiếu niên, nhi đồng đến với tổ chức của mình, phấn đấu theo những mục tiêu trong học tập, trong rèn luyện, thực hiện "5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên, nhi đồng".

Phấn đấu trở thành "Cháu ngoan Bác Hồ" là nguyện vọng thiết tha của mọi đội viên thiếu niên, nhi đồng. Ngày 15 - 5 - 1966, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 25 ngày thành lập Đội (15-5-1941 - 15-5-1966), bác Tôn Đức Thắng, thay mặt Đảng và Nhà nước đã trao Đội lá cờ thêu 16 chữ vàng, nêu lên nhiệm vụ của Đội trong thời kỳ cả nước có chiến tranh:

"Vâng lời Bác dạy
Làm nghìn việc tốt
Chống Mỹ, cứu nước
Thiếu niên sẵn sàng".

Phong trào thi đua "Làm nghìn việc tốt, thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy, phấn đấu trở thành cháu ngoan Bác Hồ" từng bước phát triển ngày càng sâu rộng, thể hiện trên tất cả mọi mặt hoạt động của Đội. Được Đảng, Nhà nước và nhân dân chăm lo giáo dục, bảo vệ, hàng vạn thiếu niên, nhi đồng đã không ngừng trưởng thành và có những đóng góp xứng đáng trong sự nghiệp của toàn dân. Trong đó có 42 vạn em đã trở thành "Cháu ngoan Bác Hồ". Riêng trong năm học 1964 - 1965, năm học đầu tiên phải đối mặt với cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ đã có 650 em học giỏi toàn diện đã được nhận phần thưởng của Bác Hồ, 32 em có những cử chỉ tốt được Bác Hồ tặng huy hiệu của Người. Hàng trăm em liên tục phấn đấu, được Bác Hồ tặng phần thưởng hai, ba năm liền. Số đội viên phấn đấu trở thành "Cháu ngoan Bác Hồ" ngày càng tăng. ở Hà Nội, năm học 1965 có 3 vạn đội viên được tặng danh hiệu "Cháu ngoan Bác Hồ", đến năm 1968, khi tổ chức Đại hội Cháu ngoan Bác Hồ số đội viên đạt danh hiệu "Cháu ngoan Bác Hồ" đã lên tới 57.500 em. Có cả những tập thể Đội được tặng danh hiệu "Cháu ngoan Bác Hồ" như chi đội thiếu nhi thôn Bằng A (huyện Thanh Trì), với hợp tác xã Măng non tham gia trồng lúa thâm canh đúng kỹ thuật đạt 9,1 tấn/ha, chăn nuôi hàng trăm con gà, vỗ béo hàng chục trâu bò, từ 99 - 100% học sinh cấp I và cấp II được lên lớp, 100% thi đỗ hết cấp. ở Nghệ An, năm học 1967 - 1968 có 145 nghìn em phấn đấu đạt danh hiệu Cháu ngoan Bác Hồ, tăng hơn năm học 1966 - 1967 tới 25 nghìn em. ở tỉnh miền núi Sơn La, phong trào phấn đấu trở thành Cháu ngoan Bác Hồ được các cấp bộ Đoàn quan tâm tạo điều kiện cho các em không ngừng vươn lên trong học tập, rèn luyện, "làm nghìn việc tốt". Ngay trong những năm đầu chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, nhiều trường lớp phải sơ tán vào vùng sâu, sinh hoạt khó khăn vẫn có 11.000 đội viên thiếu niên, nhi đồng phấn đấu trở thành "Cháu ngoan Bác Hồ". Nhiều em đạt thành tích xuất sắc được tặng huy hiệu của Người, như em Hà Văn Yên, một mình cứu sống 4 em nhỏ khỏi bị chết đuối; em Lò Văn Lun nhặt được của rơi đã trả lại cho người mất; em Hà Văn Phi ngoài việc chăm chỉ học tập, còn tích cực tham gia lao động sản xuất, đã góp nhặt được 1.000 kg phân bón giao cho hợp tác xã; em Hà Thị Liên học giỏi toàn diện, 4 năm liền đều đạt danh hiệu "Cháu ngoan Bác Hồ". Đặc biệt cả 4 chị em Liên đều là những đội viên gương mẫu, nhiều lần nhặt được của rơi đều mang trả lại cho người mất, trong đó có 2 lạng vàng.

*
*   *

Ngày 1-6-1969, Tết Quốc tế thiếu nhi là lúc sức khỏe của Bác Hồ ngày càng yếu. Bác đề nghị tổ chức cho các cháu thiếu nhi Hà Nội vào vui chơi với Bác ở Phủ Chủ tịch và Bác vẫn viết thư cho các cháu như thường lệ, Bác viết: "...Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà. Vì vậy chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ".

Không ai nghĩ được rằng đó là lần cuối cùng các em được quây quần bên Bác vui Tết thiếu nhi Quốc tế và cũng là lần cuối cùng các em được đón nhận thư Bác. Ngày 2 - 9 - 1969, vào lúc 9 giờ 17 phút Bác đã vĩnh viễn ra đi. Trước lúc đi xa, Bác Hồ để lại cho thế hệ trẻ nước ta, cho các các cháu thiếu niên, nhi đồng cả nước "Muôn vàn tình thương yêu". Người đánh giá: "Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn có chí tiến thủ", và căn dặn: "Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng" vừa "chuyên". Bác khẳng định: "Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết" (Di chúc).

Thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ, đáp ứng nguyện vọng thiết tha của thế hệ trẻ và theo đề nghị của Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 40 ngày thành lập Đảng (3-2-1930 - 3-2-1970, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết cho tổ chức Đoàn, tổ chức Đội Thiếu niên, Đội Nhi đồng Việt Nam được mang tên Bác Hồ vĩ đại:

- Đội Thiếu niên Tiền phong Việt Nam nay là Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.

- Đội Nhi đồng Việt Nam nay là Đội Nhi đồng
Hồ Chí Minh.

Trong buổi lễ trọng thể trao Quyết định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng cho Đoàn, Đội được mang tên Bác, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 39 ngày thành lập Đoàn (26-3-1931 /26-3-1970), bác Trường Chinh, thay mặt Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đã nói: "... trao cho Đoàn Thanh niên, Đội Thiếu niên và Đội Nhi đồng vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta mong muốn thế hệ trẻ nước ta suốt đời trung thành với lý tưởng của Bác, học tập phẩm chất và đạo đức cao quý của Bác Hồ, đưa sự nghiệp của Bác, của Đảng đến thắng lợi hoàn toàn".

Hội nghị lần thứ 13 của Ban Chấp hành Trung ương Đoàn (khóa III) đã kêu gọi các em thiếu niên, nhi đồng: "Hãy học và làm theo 5 điều Bác Hồ dạy, thi đua làm nghìn việc tốt, ra sức xây dựng Đội vững mạnh, phấn đấu trở thành "Cháu ngoan Bác Hồ".

Nhận rõ vinh dự và trách nhiệm của Đoàn, của Đội, Đoàn ta tổ chức đợt sinh hoạt chính trị tập trung sâu rộng về tấm gương vĩ đại của Bác Hồ trong đoàn viên và thanh, thiếu nhi. Ban Chấp hành Trung ương Đoàn coi đợt học tập và làm theo Di chúc của Bác Hồ, thực hiện 5 diều Bác dạy thanh niên, 5 điều Bác dạy thiếu niên, nhi đồng là đợt sinh hoạt chính trị mở đầu, nhằm "Làm cho đoàn viên thanh niên, thiếu niên, nhi đồng thấm nhuần công lao, sự nghiệp, đạo đức của Bác. Từ đó nâng cao lòng tự hào, tin tưởng, đoàn kết quyết tâm phấn đấu, không sợ khó khăn gian khổ hoàn thành mọi nhiệm vụ để càng xứng đáng với Bác hơn nữa".

Kết hợp chặt chẽ với nhà trường, các cơ sở Đội đã tổ chức cho đoàn thể đội viên, thiếu niên, đội viên nhi đồng tham gia đợt sinh hoạt và phát động rộng rãi chủ đề "Vì vinh dự Đội, học tập tốt, lao động tốt", xây dựng "Lời hứa đội viên". Toàn Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh và Đội Nhi đồng Hồ Chí Minh đã mở cuộc vận động xây dựng chi đội mạnh, liên đội mạnh, tập trung vào 5 mặt hoạt động của Đội.

Trong trường học phong trào thi đua "hai tốt" tiếp tục được nâng cao. Nhiều chi đội trong trường học phát triển phong trào "vở sạch, chữ đẹp", coi "nét chữ là nết người", tổ chức thi đua giữa các chi đội, liên đội tạo thành không khí rèn luyện phong cách học tập mới, có ý thức không ngừng nâng cao chất lượng từng tiết học, giờ học. Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 30 ngày thành lập Đội Thiếu niên Tiền phong (15-5-1941 - 15-5-1971) Trung ương Đoàn đã chỉ đạo thí điểm liên đội Bắc Lý thực hiện chủ đề: "Phát huy truyền thống Bắc Lý, vì vinh dự Đội, học tập tốt, lao động tốt", với các chỉ tiêu phấn đấu cụ thể, thu được kết quả tốt và năm học 1972 - 1973, Trung ương Đoàn và Hội đồng Đội Trung ương phát động rộng rãi trong các trường học toàn miền Bắc chủ đề: "Tiến theo Bắc Lý, vì vinh dự Đội, thi đua học tập tốt, lao động tốt" tạo nên không khí thi đua học tập, rèn luyện trong đông đảo đội viên thiếu niên, nhi đồng. Nhiều liên đội, chi đội đã sáng tạo những hình thức sinh động, đề ra những biện pháp tích cực thúc đẩy phong trào học tập, phát triển toàn diện. Riêng liên đội Trường THCS Bắc Lý liên tục đạt danh hiệu xuất sắc, dẫn đầu phong trào hoạt động Đội, được Trung ương Đoàn, Tỉnh Đoàn tặng thưởng nhiều cờ và bằng khen, góp phần vào thành tích chung của nhà trường, được Nhà nước 8 lần tặng cờ thưởng luân lưu, 8 Huân chương Lao động (3 hạng nhất, 3 hạng nhì, 2 hạng ba), 1 Huân chương Độc lập hạng Nhất. Hai lần Nhà nước tặng trường danh hiệu Anh hùng, năm 1985 và năm 2000.

Năm 1972 đế quốc Mỹ cho không quân và hải quân đánh phá trở lại miền Bắc Việt Nam, với mức độ ác liệt tăng lên gấp bội so với lần thứ nhất. Bom B52 của Mỹ rải thảm xuống Khâm Thiên, Uy Nỗ, An Dương (Hà Nội); thủy lôi Mỹ phong tỏa cửa biển Hải Phòng, Quảng Ninh... Nhiều trường học, một lần nữa lại phải sơ tán đến nơi an toàn. Các chi đội, liên đội vẫn tổ chức đội viên duy trì nền nếp học tập. Khi đế quốc Mỹ ngừng ném bom miền Bắc, chịu ký Hiệp định Pari về việc lập lại hòa bình ở Việt Nam, đội viên thiếu niên, nhi đồng lại nhanh chóng cùng nhà trường bắt tay xây dựng lại trường sở. Nhiều chi đội đã làm chủ công trong việc xây dựng vườn trường, làm thêm nhiều dụng cụ học tập...

Tổ chức Đội ngày càng được củng cố vững mạnh, thật sự trở thành, một lực lượng giáo dục trong nhà trường xã hội chủ nghĩa, theo tinh thần Nghị quyết về cải cách giáo dục của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Tổ chức Đội được củng cố và phát triển, từng bước Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh đã có những cuộc giao lưu với thiếu nhi các nước xã hội chủ nghĩa và bạn bè quốc tế. Năm 1958, lần đầu tiên thiếu nhi miền Bắc Việt Nam được đón nhận quà tặng của các bạn Đội Thiếu niên Tiền phong mang tên E. Thalmanr (Cộng hòa Dân chủ Đức cũ). Quà tặng gồm quần áo, sách vở và học cụ, kèm theo nhiều bức thư thể hiện tình cảm của các bạn thiếu nhi Đức đối với thiếu nhi Việt Nam. Quà tặng của các bạn thiếu nhi Đức được dành dùng làm phần thưởng hoặc được trao cho những bạn học sinh nghèo, có nhiều khó khăn.

Mùa hè năm 1971 lần đầu tiên một Đoàn Thiếu nhi Việt Nam đã được mời tham dự trại hè thiếu nhi Quốc tế tổ chức tại Artek (Liên Xô). Đoàn gồm một số em có thành tích trong học tập và hoạt động Đội, trong đó có em Nguyễn Rừng, một chi đội trưởng xuất sắc ở xã Kim Mã (Kim Sơn, Ninh Bình). Cũng trong năm 1971, một đoàn đại biểu thiếu nhi hai miền Nam - Bắc Việt Nam đã tham dự trại hè Wilhem Pieck, tại Cộng hòa Dân chủ Đức với tinh thần tuy là một đoàn nhưng hoạt động như hai đoàn. Mỗi đoàn có 5 em. Tham gia có anh Nguyễn Đức Thìn, một Tổng phụ trách Đội của trường Tam Sơn, Bắc Ninh và những em thiếu nhi hai miền Nam - Bắc có thành tích trong học tập, rèn luyện và chiến đấu. Có em từng là chiến sĩ diệt Mỹ, diệt xe tăng. Đặc biệt có em Liên là nhân chứng vụ thảm sát ở Sơn Mỹ (Quảng Nam). Một lần sang Tây Beclinh tố cáo tội ác của Mỹ trong vụ Sơn Mỹ, một nhà báo phương Tây hỏi Liên: "Có phải có ai đó đã xui em kể chuyện đó hay không? Mặc dù tuổi nhỏ nhưng Liên vẫn hiểu được dụng ý xấu của nhà báo đó, em đã phản ứng lại ngay, với một câu hỏi đặt ngược lại: Có phải chú đã được trả tiền để hỏi như vậy không? Gia đình, bà con làng xóm bị sát hại trước mặt cháu, làm sao cháu không căm thù, việc gì phải ai xui".

Nghe dịch xong, tên nhà báo phương Tây vội thanh minh mấy câu rồi biến mất. Còn báo chí tiến bộ ở Đức ca ngợi hết lời trí thông minh sắc sảo của Liên.

Đến năm 1974, một Đoàn đại biểu thiếu nhi Việt Nam và 2 cán bộ phụ trách lại được mời tham dự Đại hội lần thứ VI thiếu nhi toàn Liên bang Liên Xô và tham dự Hội nghị những người lãnh đạo phong trào thiếu nhi các nước xã hội chủ nghĩa, tại trại hè Artek. Từ đó, hàng năm tổ chức Đội của thiếu nhi Việt Nam đều cử các đoàn đại biểu thiếu nhi tiêu biểu tham dự trại hè của thiếu nhi các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Mông Cổ... Trong đó nhiều lần thiếu nhi miền Nam cũng đã cử những đại biểu xuất sắc của mình cùng tham dự, đem đến cho thiếu nhi cả nước niềm cổ vũ mạnh mẽ tinh thần học tập và rèn luyện, sự ủng hộ quý báu của bạn bè thế giới đối với cuộc đấu tranh của nhân dân và thiếu nhi nước ta.

Phong trào thiếu niên, nhi đồng ở các tỉnh, thành phố miền Nam sau khi được mang tên Bác Hồ vĩ đại (do điều kiện chiến tranh, đến tháng 6 - 1970, Đội Thiếu niên và Đội Nhi đồng các tỉnh, thành phố miền Nam chính thức được mang tên Bác Hồ) đã có những bước phát triển vượt bậc. ở các vùng giải phóng của tỉnh Quảng Đà (Quảng Nam, Đà Nẵng) đến đầu những năm 70 đã có 60% các em thiếu nhi được vào Đội. Năm 1972, riêng các tỉnh Nam Bộ đã có 811.281 đội viên, 285.913 em khác được tập hợp dưới những hình thức khác nhau.

Tổ chức Đoàn các cấp, trong điều kiện khó khăn của chiến tranh vẫn thường xuyên quan tâm chăm lo công tác Đội. Bên cạnh việc định hướng hoạt động của tổ chức Đội trong từng thời kỳ, các kỳ Đại hội Đoàn đều có Nghị quyết về công tác Đội. Tổ chức Đoàn Thanh niên miền Nam đặc biệt coi trọng công tác bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ phụ trách Đội, bổ sung, kiện toàn bộ máy phụ trách công tác thiếu nhi đến tận cơ sở. ở cấp miền, Ban Thiếu niên, nhi đồng đã có tới 7 cán bộ chuyên trách, do một đồng chí Bí thư Trung ương Đoàn phụ trách và một đồng chí ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đoàn trực tiếp làm trưởng ban. ở cấp tỉnh và phân khu đến cấp huyện đều có từ 2-3 cán bộ chuyên trách làm công tác thiếu nhi (Cà Mau, Rạch Giá). Ban Thiếu nhi Trung ương còn tổ chức biên soạn và phát hành thường xuyên "Sổ tay kinh nghiệm người cán bộ phụ trách", tạo điều kiện hỗ trợ cán bộ cơ sở kinh nghiệm hoạt động Đội. Nhiều chi đội ở vùng giải phóng, cũng như ở vùng tranh chấp, vùng do địch tạm kiểm soát đã không ngừng lớn mạnh, đóng góp phần công sức xứng đáng vào việc tổ chức thiếu niên, nhi đồng tham gia nhiều trong công tác kháng chiến.

Chi đội Hàm Rồng đất mũi Cà Mau (huyện Năm Căn), khi còn nằm trong vùng giải phóng (thời kỳ 1960 - 1968), đã có không ít những hoạt động sôi nổi, thu hút hầu hết thiếu nhi trên địa bàn tham gia nhiều hoạt động thiết thực như xóa mù chữ, làm vệ sinh xóm ấp, giúp đỡ gia đình chính sách, tổ chức tập nghi thức Đội. Đội văn nghệ Chim Việt của chi đội từng đi biểu diễn ở nhiều xã trong vùng, góp phần tuyên truyền chính sách của Đảng, của cách mạng.

Khi địch tiến hành bình định, dồn dân, hầu hết thiếu nhi đều theo các anh, chị du kích vào "Làng Rừng", tổ chức làng chiến đấu, trở thành trụ cột của đội du kích. Các em cùng các anh, chị bố phòng tại những khu vực xung yếu, đánh biệt kích, bắt thám báo. Những bãi chông, bãi lửa (bãi mìn) của các em từng bẻ gãy nhiều cuộc càn của địch, làm thất bại chiến thuật "Hắc điểu ngủ rừng xanh" của chúng. Năm 1972, khi bộ đội ta bao vây Cái Nước và các vùng xung quanh, ngoài nhiệm vụ phối hợp tác chiến, các em còn tổ chức đánh cá làm khô tiếp tế cho bộ đội. Đồn Cựa Gà, đồn Đầm Cùng lần lượt bị tiêu diệt. Căn cứ nổi của địch bị nhấn chìm... buộc địch phải bỏ chạy khỏi chi khu Cái Nước. Quê hương được giải phóng, chi đội tổ chức rước đền thờ Bác Hồ từ "Làng Rừng" về làng cũ để nhân dân cùng được tưởng niệm.

Tiêu biểu cho hoạt động Đội vùng giải phóng có Liên đội Hoàng Lệ Kha, nơi chuyên dạy con em liệt sĩ, con cái cán bộ của tỉnh Tây Ninh, trường văn hóa tập trung đầu tiên của toàn miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, mang tên Hoàng Lệ Kha, một cán bộ cách mạng kiên cường đã hy sinh trong những ngày Mỹ - Diệm lê máy chém đi khắp miền Nam tiến hành cái gọi là chiến dịch "tố cộng", "diệt cộng". Trong điều kiện chiến tranh, trường thường xuyên phải di chuyển, nhiều lần phải tự làm lấy nhà để ở, để làm lớp học, phải sản xuất tự túc một phần lương thực, thực phẩm... Không ít lần trường bị biệt kích bao vây, càn quét, bị pháo bắn vào khu vực trường, bị B52 rải thảm, có bạn bị chết, bị thương... Liên đội vẫn tổ chức, động viên các đội viên giữ vững tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, khắc phục mọi hậu quả, bảo đảm kết quả học tập, giữ vững sinh hoạt và hoạt động Đội có nền nếp trong mọi hoàn cảnh. Hàng trăm đội viên lớn của liên đội còn nhiều lần cùng các anh, chị lớn tuổi, cùng các thầy cô đi vác đạn, tải thương phục vụ các chiến dịch đánh địch của các lực lượng vũ trang giải phóng. Liên đội đã báo cáo thành tích làm được lên Bác Hồ, bác Tôn. Bác Tôn đã thay mặt Bác Hồ gửi thư khen ngợi tập thể Liên Đội Thiếu niên Tiền phong Hoàng Lệ Kha làm được nhiều việc tốt.

ở vùng tranh chấp, Đội Thiếu niên Tiền phong thường có hai hình thức tổ chức: Đội bất hợp pháp hoạt động công khai ở căn cứ vùng lõm của xã; những đội viên sống hợp pháp trong ấp chiến lược thì hoạt động trong khu dồn, trong ấp, phối hợp với tổ chức Đội ở khu căn cứ nắm tình hình địch, tổ chức đánh địch. ở vùng tranh chấp Triệu Phong (Quảng Trị) có Đội Thiếu niên xã Triệu Vân, với trên 300 đội viên, liên tục lập công từ năm 1960 đến 1972, đánh 275 trận, diệt 409 tên địch (có 141 tên Mỹ), làm bị thương 566 tên (có 166 lính Mỹ), diệt 3 xe tăng, phá hủy 8 chiếc khác; tự làm được cả mìn, bàn chông tre, bàn chông sắt, làm hầm bí mật. Đã có 94 đội viên bị địch bắt từ 3 đến 15 ngày, bị đánh đập, tra tấn dã man, nhưng không một em nào khai báo điều gì với địch. Từ năm 1969 - 1972 địch điên cuồng bình định, dồn dân tách dân ra khỏi các cơ sở cách mạng, 62 đội viên đã tham gia móc nối được 152 cơ sở trong ấp chiến lược, trong thị trấn; có 35 đội viên tham gia du kích mật; 34 đội viên lớn trưởng thành thoát ly đi bộ đội, vào các cơ quan, 9 em sau đó đã hi sinh trong khi đang làm nhiệm vụ.

Trong các vùng địch tạm chiếm, hoạt động của tổ chức Đội Thiếu nhi thường đa dạng, tùy theo từng điều kiện, các em tham gia các công tác của cơ sở, làm liên lạc, tham gia vận chuyển vũ khí, đạn dược, dẫn đường cho các đội biệt động, các đơn vị đặc công luồn sâu vào vùng địch tổ chức các trận đánh tiêu hao, tiêu diệt lực lượng địch. Nhiều cơ sở Đội đã tổ chức thành những nhóm du kích thiếu niên mật, hoạt động khá táo bạo, làm kẻ địch nhiều khi phải bị động đối phó, như các Đội du kích Nguyễn Văn Trỗi (Điện Bàn, Quảng Nam), Đội Chim én (Bình Định), Đội Thiếu nhi Bình Sơn (Biên Hòa), Đội diệt ác Chim Quyên (Vĩnh Long), các Đội Chim Xanh, Phù Đổng... hoạt động ngay trong các quận nội thành Sài Gòn...

Từ năm 1972, tổ chức Đoàn Thanh niên các tỉnh, thành phố miền Nam chủ trương chuyển công tác thanh, thiếu nhi vào vùng yếu, vùng sâu, tổ chức Đội trong các vùng tạm bị địch chiếm đã có những bước phát triển đáng chú ý, trong đó có việc vận động đưa các nội dung giảng dạy tiến bộ vào trong các trường học. Tại Bến Tre, Đoàn đã khéo léo chỉ đạo đưa nội dung 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên, nhi đồng vào các trường học ở cả các thị xã, thị trấn. Đáng chú ý là Đoàn thiếu nhi Phù Đổng ra đời và hoạt động trong lòng Sài Gòn, từ mùa xuân 1972 với 20 em ban đầu đã nhanh chóng phát triển lên 200 em. Ngoài ra còn lôi cuốn hàng chục em khác tham gia sinh hoạt với nhiều hoạt động phong phú ngay dưới con mắt nhòm ngó của bọn cò chìm, cò nổi của địch. Các em là tai mắt của nhiều hoạt động đấu tranh của học sinh, sinh viên Sài Gòn. Trong đó có cuộc đấu tranh của Tổng đoàn học sinh Sài Gòn tưởng niệm học sinh Quách Thị Trang, ngày 25 - 8 - 1973. Mặc dù sau đó bị địch khủng bố, chị Nga (người tổ chức ra Đoàn Thiếu nhi Phù Đổng) và một số bạn bị bắt, song các em Lê Văn Thâu, Lê Thị Hoa, Phạm Thị Mai... vẫn tiếp tục tổ chức các hoạt động của Đoàn Thiếu nhi Phù Đổng. Tại Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh) được sự chỉ đạo của Ban Thiếu nhi Trung ương Đoàn và Thành Đoàn Sài Gòn, lợi dụng âm mưu "đoàn ngũ hóa" thiếu nhi học sinh đã chỉ đạo cán bộ trong cơ sở giáo viên thành lập Liên đoàn nữ sinh trường Chi Lăng I, đưa các nội dung tiến bộ vào giảng dạy trong nhà trường, chuyển hóa từ 5 điều Bác Hồ dạy, sang thành 5 điều luật của Liên đoàn là:

- Yêu nước, yêu dân tộc Việt Nam
- Biết kính yêu thầy cô, vâng lời cha mẹ
- Dũng cảm anh hùng vì lẽ phải
- Kỷ luật và đoàn kết giúp nhau học tập
- Giữ vệ sinh chung, không coi sách báo ti vi nhảm nhí.

Liên đoàn nêu khẩu hiệu:

Sẵn sàng: vâng lời!
          Sẵn sàng: cố gắng!
         Sẵn sàng: học tập!

Liên đoàn tập hợp được 790 đoàn viên, trong đó có 490 đoàn viên chính thức, được đeo khăn quàng đỏ viền xanh, chia thành 12 đoàn và 50 toán. Liên đoàn có cả tờ nội san, góp phần giúp các em thiếu niên, nhi đồng phân biệt tốt xấu, phải trái, biết yêu và biết ghét đúng người, đúng sự việc. Phần lớn nội dung của nội san đều lấy những câu chuyện được đăng tải trên báo chí Sài Gòn về tội ác của lính Mỹ, những hình ảnh trẻ em lang thang sống bằng đồ thải của lính Mỹ... để thức tỉnh tinh thần dân tộc, hướng các em làm những việc có ích, tham gia công tác xã hội, dạy học cho trên 200 trẻ em nghèo, không có điều kiện cắp sách đến trường, làm bông giấy, búp bê bán, lạc quyên tiền ủng hộ quỹ cứu tế xã hội...

Hoạt động Đội trong vùng địch tạm chiếm đóng cũng đã mang lại những hiệu quả thiết thực, nhất là trong việc tổ chức các đội viên tham gia các công tác kháng chiến, làm liên lạc, móc mối cơ sở, tổ chức nắm tình hình địch, giúp đỡ các lực lượng vũ trang giải phóng đánh địch. ở Mỹ Tho, trong những chiến công vẻ vang của Đội biệt động thành, có công sức đóng góp của Trịnh Văn Vũ, một thiếu niên mới 13 tuổi. Lợi dụng mình còn nhỏ tuổi, địch ít để ý, Vũ đã khôn khéo áp sát mục tiêu, điều tra, nghiên cứu trận địa, vận chuyển mìn, lựu đạn, súng ngắn... đến các vị trí tập kết để các chiến sĩ biệt động có cơ hội tiếp cận mục tiêu đánh địch. Trong đó có trận đánh của đội trưởng Huỳnh Văn Long vào nhà hàng ăn uống Việt Hải, nơi bọn sĩ quan Mỹ và bọn Ngụy ác ôn thường tụ tập. Nhà hàng nằm cạnh bờ sông Tiền, rất khó tiếp cận. Việc đưa khí tài đến gần mục tiêu càng khó khăn. Để đưa được quả mìn đến vị trí cần thiết, anh Huỳnh Văn Long đã phải ngâm mình dưới nước gần một đêm trời. Còn Trịnh Văn Vũ lại có thể qua mắt địch một cách dễ dàng. Trận ấy, đội biệt động thành phố Mỹ Tho diệt được 30 tên địch, có 8 tên Mỹ. Vũ được tặng danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ" cấp I.

Trong chiến tranh ác liệt, kẻ địch khủng bố gắt gao, việc chuyển lương thực, thực phẩm cho cán bộ, chiến sĩ, nhất là số cán bộ chiến sĩ hoạt động trong vùng địch tạm chiếm đóng, nhiều khi cũng là những cuộc chiến đấu sinh tử, đòi hỏi phải khôn khéo mới có thể qua được mắt địch. Tại chiến trường miền Đông - Nam Bộ, trong các năm từ 1969 đến 1971, các vùng đồn điền cao su phần lớn đều bị địch khống chế. Hàng ngày công nhân ra lô cạo mủ, các em đi thả trâu bò đều bị chúng kiểm soát gắt gao, không một thứ gì có thể lọt được ra ngoài, trong khi cán bộ nằm tại địa bàn thiếu thốn đủ thứ: thiếu gạo, thiếu muối, nhất là thuốc chữa bệnh... nhưng không thể tiếp tế. Các em thiếu nhi trong các sở cao su phải tìm đủ cách, từ việc buổi sáng phải ăn thật no, ăn cả phần cho buổi trưa, còn cơm lèn chặt trong guy gô chỉ để dành tiếp tế cho các chú, các anh cán bộ. Để cán bộ có chất ngọt bồi dưỡng sức khỏe, các em mua đường về hòa thật đặc vào nước cho vào can 3 lít để mang đi, tránh con mắt dò xét của bọn lính canh. Nhưng thuốc chữa bệnh thì không thể hòa vào nước các em phải tìm cách khác. Các em đan những cái rọ bịt mõm làm như để cai sữa cho bê lớn và hạn chế bê nhỏ bú sữa, giấu thuốc vào rọ để che mắt địch. Không chỉ các em ở vùng đồn điền cao su miền Đông Nam Bộ, các em thiếu niên, nhi đồng ở Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Phú Yên, Lâm Đồng... trong nhiều lần cũng đã phải dùng mưu như thế khi muốn tiếp tế cho cán bộ cách mạng ở những vùng địch chiếm đóng, vùng tranh chấp.

Còn ở Cà Mau, em Cam là một đội viên thiếu niên, thường xuyên tích cực tham gia công tác Đội, bị thương nặng khi bom Mỹ đánh phá vào ấp, biết không thể qua khỏi, em chỉ nói với mẹ: "Con... chết... má bắt con gà chống Mỹ... góp với các bạn gởi cho các chú thương binh!". Con gà là một chuyện nhỏ, nhưng Cam đã gửi theo nó cả một ý chí lớn - ý chí đánh Mỹ của mình, cũng là ý chí của thiếu niên, nhi đồng miền Nam những năm tháng cùng cha anh tiến hành cuộc kháng chiến thần thánh chống Mỹ, cứu nước.

Nhiều em đã trở thành tai mắt của cuộc kháng chiến. ở Phù Cát (Bình Định), có em Vũ Bão, 10 tuổi đã có thể giúp má đưa thư, nhắn tin cho cán bộ cách mạng đang hoạt động tại địa phương. 12 tuổi Bão trở thành một giao liên tin cậy, thường đưa đón cán bộ đi lại hoạt động trong vùng. Em nắm chắc quy luật hoạt động của từng đồn bốt địch, nơi chúng thường tổ chức phục bắt cán bộ. Trong lần cảnh giới bảo vệ cuộc họp của huyện ủy tại xã Cát Khánh, bị địch bao vây, Bão đã dũng cảm dùng xuồng máy, đưa 11 cán bộ của Đảng thoát ra ngoài an toàn. Bị thương vào đùi, máu trào ra như xối, Bão vẫn bình tĩnh giữ chắc tay lái. Bị thương lần thứ hai, trúng ngực, Bão cắn răng, giữ hướng cho xuồng vào khuất sau doi cát có chòm dừa che khuất mới chịu buông lái, khi tim đã ngừng đập. Em được truy tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất, danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Tưởng nhớ chiến công của người Anh hùng nhỏ tuổi, thành phố Quy Nhơn lấy tên Vũ Bão đặt cho một con đường.

Cũng ở thành phố Huế còn có em Đỗ Văn Tràu, 14 tuổi đã tham gia Đội an ninh vũ trang của thành phố. Chiến đấu bị thương, bị địch bắt, giam cầm trong trại tù thiếu niên, Tràu vẫn tìm cách hoạt động. Em vận động 5 bạn thành lập Đội thiếu niên tiền phong, tham gia đấu tranh không treo cờ ngụy. Khi chúng thích vào tay các em hai chữ "sát cộng", Tràu lấy lửa đốt cháy chỗ da đó và vận động các bạn cùng làm theo. Địch khủng bố, các em tuyệt thực phản đối. Anh em tù binh thường gọi các em là "Đội thiếu nhi chống sát cộng". Tháng 10 - 1970, Đỗ Văn Tràu được kết nạp vào Đoàn và tháng 1 - 1973 được kết nạp vào Đảng.

Nhiều em thiếu niên, nhi đồng táo bạo tổ chức đánh địch ngay trong các thị trấn, thị xã. Hồ Văn Mên, quê ở xã An Thạnh, Lái Thiêu, mồ côi cả cha lẫn mẹ ngay từ ngày còn nhỏ, em phải ở với bà nội. Bà là cơ sở của chi bộ Đảng. Mên nhiều lần nài nỉ xin các chú cho vô du kích. Nhưng thấy em còn nhỏ, mọi người ngần ngại. Mên rủ bạn mình tên là Thu, tìm cách lân la chơi với bọn lính Mỹ để kiếm súng. Phong trào thiếu nhi tham gia đánh Mỹ ở quê Mên phát triển, nhưng phần lớn đều tự phát. Chi bộ Đảng ở địa phương thấy phải kịp thời tổ chức các em lại, hướng dẫn các em đánh Mỹ. Chi bộ họp, giao cho Đoàn Thanh niên lãnh đạo và tổ chức cho các em tham gia những công việc vừa sức, bảo đảm an toàn tối đa cho các em. Mỗi lần các em tổ chức đánh địch, Đoàn Thanh niên đều bố trí lực lượng hỗ trợ, bố trí cả lực lượng đội quân tóc dài do cô Ba Thà phụ trách, để khi cần đấu tranh không cho địch khủng bố các em. Mừng ngày sinh nhật Bác Hồ 19 - 5, tổ thiếu niên du kích của Mên xin các chú du kích cho đánh địch ngay trong thị trấn Phú Lợi, bằng những trái lựu đạn Mã lai các em được thưởng trước đó. Thị trấn Phú Lợi có sòng tài xỉu ở trong chợ, bọn lính ngụy, phần lớn là những sĩ quan ác ôn, thường tụ tập tại đó đánh bài.

Cái khó ở đây là làm thế nào đánh được địch, nhưng vẫn bảo vệ được dân. Chú Mười cử thêm Điền tăng cường cho nhóm của Mên và Thu, ngoài ra còn có tổ du kích của chú út sẵn sàng hỗ trợ khi cần. Mên và các bạn cho trái Mã lai vào những ổ bánh mỳ, hoặc gói xôi, bình thản tiếp cận mục tiêu. Nhưng mãi người trong chợ vẫn chưa vãn. Chờ đến hơn 10 giờ, vẫn còn 2 chị em một đứa bé bế nhau mê mải đứng xem đánh bài và một anh thanh niên đang say gỡ. Phải tìm cách mãi mới điều được những đối tượng này ra xa. Khi đã yên tâm chỉ còn lại trên chiếu bạc bọn sĩ quan ác ôn đủ các sắc lính ngụy, Mên mới ra hiệu, để cùng lúc 3 trái Mã lai được tung vào giữa đám bạc, làm chết một lúc 30 tên, 29 tên khác bị thương, trong đó có 5 tên sĩ quan và 10 tên bình định.

Tổ thiếu nhi du kích của Hồ Văn Mên còn mưu trí đánh địch nhiều trận, đánh cả bọn lính Pắc Chung Hi. Có trận Mên tổ chức đặt mìn định hướng vào trong một gánh cỏ của một bác cơ sở để bác gánh đến gần chỗ bọn địch sư 5 đang co cụm, mới điểm hỏa, mìn nổ thổi bay cả đám lính địch, còn Mên thì rút êm. Riêng Hồ Văn Mên đã diệt 80 tên, 3 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, diệt cơ giới và dũng sĩ Quyết thắng cấp ưu tú, được cử đi dự Đại hội thi đua của Khu và tham gia đoàn đại biểu của Khu dự Đại hội chiến sĩ thi đua toàn miền Nam.

Những dũng sĩ nhỏ tuổi xuất hiện ngày càng nhiều, mỗi người một vẻ lập công. Lê Văn Nghĩa ở Hóc Môn, dùng búa đánh mạnh vào huyệt "phong thủ" giết tại chỗ tên Theo chỉ huy bọn biệt kích gian ác; Trần Văn Chẩm, ở đất thép Củ Chi, đã dũng cảm xử tội chết tên đại diện Chưng có nhiều tội ác với nhân dân ngay tại một quán nước bên đường chỉ bằng một phát súng. Về sau địch bắt được em và Chẩm đã hi sinh lúc mới 14 tuổi. Trần Văn Chẩm được Nhà nước truy tặng Huân chương Quân công hạng Ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang (Tuyên dương 6 - 1995).

Sau thắng lợi của các hoạt động quân sự trong Đông - Xuân 1972, vùng giải phóng được mở rộng ở miền Đông - Nam Bộ, tỉnh Bình Phước được thành lập. Lộc Ninh trở thành thủ phủ của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Cuối năm 1973, lần đầu tiên Đại hội "Cháu ngoan Bác Hồ" cấp tỉnh được tổ chức. 100 đại biểu "Cháu ngoan Bác Hồ" tiêu biểu cho phong trào thiếu nhi miền Nam những năm chiến đấu chống Mỹ gian khổ và oanh liệt của tỉnh Bình Phước đã dự Đại hội, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần vươn lên lập công không chỉ đối với thiếu niên, nhi đồng trong tỉnh. Một số địa phương khác như Cà Mau, Tây Ninh cũng đã tiến hành xét chọn và mở "Đại hội thiếu nhi Thành đồng". Tuy diện tổ chức được "Đại hội Thiếu nhi Thành đồng" chưa rộng song cũng đã góp phần cổ vũ mạnh mẽ phong trào "Việc nhỏ chí lớn" của thiếu nhi miền Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ.

Vùng giải phóng được mở rộng, thiếu niên, nhi đồng miền Nam ngày càng được quan tâm chăm sóc về đời sống, về học tập, vui chơi. Trong nhiều năm trước việc học tập của thiếu niên, nhi đồng ở các vùng giải phóng đã có những bước phát triển đáng chú ý. Chỉ riêng ở Cà Mau, trước năm 1968 đã có 40.000 học sinh các cấp. Nhưng sau chiến dịch Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân 1968, kẻ địch đẩy mạnh bình định, đánh phá ác liệt nhiều vùng căn cứ cách mạng. Việc học tập của các em gặp khó khăn. Trường lớp phân tán, không ổn định. Nhiều nơi các em phải ăn ngủ dưới hầm, vệ sinh không đảm bảo, sức khỏe giảm sút. Chất lượng học tập sút kém dần. Sau năm 1972, việc học tập của các em từng bước được khắc phục. Các em nêu khẩu hiệu "Đi học là thắng Mỹ, học giỏi là dũng sĩ", không ngừng phấn đấu vươn lên. ở phân khu 2, các em nêu quyết tâm "Căm thù Mỹ em gắng học chăm". Phong trào học tập của các em đi dần vào nền nếp, chất lượng học tập không ngừng được nâng lên. Nhiều em phấn đấu trở thành học sinh giỏi.

Cùng với việc đẩy mạnh phong trào học tập, một số địa phương, bước đầu đã đi vào hoạt động theo những chủ đề thích hợp, như "Em yêu anh giải phóng quân", hoặc "Lít gạo nuôi quân, góp phần thắng Mỹ" "Con khô (cá) gửi ra tiền tuyến", "Chòi của bộ đội"... Chỉ tính sơ bộ, trong 5 năm (từ 1966 - 1970), thiếu niên, nhi đồng các tỉnh, thành
phố miền Nam đã trồng được 1.150.000 cây xanh, cây ăn trái; 900.000 gốc mì cách mạng; ủng hộ bộ đội 123.356 kg rau xanh, 900 con gà, 1.500 kg cá khô; góp 2.000 lít gạo nuôi quân.

Những năm từ 1954 - 1975, là thời kỳ thiếu niên, nhi đồng nước ta, cũng như cha anh mình, phải trải qua nhiều thử thách, đôi khi vượt rất xa những gì lứa tuổi các em có thể có, cả thể chất, tâm, sinh lí và nhất là năng lực hành động. Cũng là thời kỳ tổ chức Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh và Đội Nhi đồng Hồ Chí Minh, được sự quan tâm chăm sóc của Đảng, của Đoàn đã từng bước trưởng thành, hình thành hệ thống hoàn chỉnh, với Điều lệ, Nghi thức của Đội mang tính chất chính quy, tạo cơ sở để hoạt động Đội đi dần vào nền nếp, tổ chức các phong trào hành động cách mạng phù hợp, lôi cuốn đông đảo thiếu niên, nhi đồng không ngừng rèn luyện phấn đấu theo 5 điều Bác Hồ dạy, trở thành con ngoan trò giỏi, "Cháu ngoan Bác Hồ", góp phần đào tạo nên những thế hệ tuổi trẻ, đáp ứng nhu cầu sự nghiệp cách mạng như Bác Hồ từng mong muốn.

Đội Thiếu niên Tiền phong luôn gắn liền hoạt động và giáo dục của mình với thực tiễn cách mạng và lao động sản xuất, xây dựng cuộc sống mới, thật sự đã trở thành trường học cộng sản chủ nghĩa đầu tiên của tuổi trẻ, góp phần hình thành phẩm chất những thế hệ con người mới phát triển toàn diện, là nơi các em tập dượt để trở thành người chủ xã hội mới, thành đội hậu bị đông đảo của Đoàn và là lực lượng dự trữ trẻ tuổi của Đảng.

Các thế hệ thiếu niên, nhi đồng cùng cha anh đã trải qua những năm tháng cam go nhưng vô cùng oanh liệt, đánh thắng đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thu về một mối giang sơn gấm vóc, càng vững bước trên con đường xây dựng một xã hội giàu mạnh, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, công bằng, dân chủ và văn minh, dù còn phải vượt qua không ít thử thách trên con đường vạn dặm.


Ban Biên tập

Họ tên Email
Địa chỉ Mã an toàn FENUDK
Nội dung