Những chuyến đi khó nhọc…

Đang bận rộn với việc nhà ông vẫn dành thời gian tiếp chúng tôi. Và trong ngôi nhà đang trong quá trình hoàn thiện ông như được sống lại những năm tháng tham gia đoàn tàu không số, và nhất là trận đánh tàu 645 nơi có sự hy sinh anh dũng của chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu.
Sau khi tốt nghiệp khoa điều khiển tàu biển trường đại học Hàng hải Việt Nam. Năm 1968, khi vừa tròn 21 tuổi ông Lăng nhập ngũ, tham gia vào đoàn tàu trong “kế hoạch VT5”( mật danh chiến dịch vận chuyển vũ khí, phương tiện vào chiến trường miền Nam kết hợp giữa đường biển và đường bộ, cũng do đoàn 125 - Bộ tư lệnh Hải quân đảm nhiệm). Trong thời gian từ năm 1968 đến 1971, ông Lăng tham gia hàng trăm chuyến tàu vận chuyển hàng hóa vào các cảng khu vực Quảng Bình thành công.
Đầu năm 1971, với yêu cầu mới từ chiến trường miền Nam, ông Lăng chuyển sang đoàn tàu không số (thuộc đoàn 125 – Bộ tư lện Hải quân). Thời gian 1 năm từ ngày xuống tàu 645 với hơn chục lần xuất bến nhưng con tàu đều phải quay trở lại vì địch liên tục theo dõi, bám riết. (Thời gian này yếu tố bí mật, bất ngờ của những chuyến tàu không số không còn được đảm bảo như trước đây). Ông Lăng nhớ lại, hành trình của các tàu không số khi đó bị Mỹ- Ngụy theo dõi rất chặt chẽ. Hàng trăm chuyến xuất bến mới có chuyến đến đúng địa điểm và trả hàng an toàn. Ngày đó Mỹ- Ngụy bố trí một lực lượng hải quân dày đặc trên mặt biển, từ bờ ra đến 5 hải lý là do lực lượng thuyền chiến đảm nhiệm. Từ 5 đến 30 hải lý do lực lượng tuần duyên gồm 50 tàu chiến và 200 tàu bổ trợ như WPB, PCF đảm nhận. Từ 30 hải lý trở ra do các tàu khu trục, tuần dương Mỹ đảm nhận. Ngày đó Mỹ huênh hoang tuyên bố “ xây dựng lực lượng hải quân Ngụy mạnh thứ 3 thế giới”, “ một con chim sẻ bay trên hải phận miền Nam Việt Nam chúng cũng có thể kiểm sóat được”.
Đầu 1972, tàu 645 có hai lần xuất bến nhưng đều bất thành. Tới ngày 12/4/1972, tàu 645 với 19 chiến sĩ và 3 vị khách đi nhờ vào Nam, mang theo 70 vũ khí, xuất phát từ vịnh Hạ Long với cách đi mới sát vào khu vực bờ biển của Philippin, Malaixia vòng lên Vịnh Thái Lan và sẽ trả hàng tại bến Cô Kông (Campuchia). Với cách đi mới chuyến đi diễn ra khá thuận lợi. Khoảng 19 giờ ngày 23/4 tàu cách khu vực Cô Kông chừng 5 hải lý, anh em chiến sĩ trên tàu không nói ra miệng nhưng trong bụng đều thầm nghĩ chuyến đi đã thành công. Kế hoạch trả hàng đã được lên cụ thể.
…và trận đánh đi vào lịch sử
Kế hoạch trả hàng đã sẵn sàng, bất thình từ trong bờ có một tàu chiến của Ngụy chiếu đèn pha sáng rực, phát tín hiệu về phía tàu 645 hỏi tàu từ đâu tới? Sau ít phút, tàu 645 phát tín hiệu trả lời “ là tàu Trung Quốc bị lạc”. Vừa trả lời tàu 645 vừa chạy vào bờ với ý nghĩ có thể đánh lừa được tàu địch. Nhưng, sau đó ít phút một loạt máy bay Mỹ thả pháo sáng rực cả bầu trời, tàu 645 rõ lồ lộ, địch yêu cầu tàu phải đi theo vệt pháo sáng mà địch thả xuống. Qua làn pháo sáng ta nhìn rõ 3 tàu chiến địch đứng trước mũi tàu. Nhận định tàu bị lộ, chi bộ tàu quyết định bẻ bánh lái hướng tàu ra khu vực hải phận quốc tế. Chiếc khu trục 04 mang biệt hiệu Trần Khánh Dư của Ngụy liên tục bám theo với ý định bắt sống tàu 645. Bám riết đến khoảng 7 giờ sáng ngày 24/4, địch phát hiện 645 là tàu “ Bắc Việt giả dạng” chúng tìm mọi cách dụ hàng. Về phía tàu 645, các chiến sĩ trên tàu vờ như không nghe thấy những lời chiêu hàng vẫn cho tàu chạy ra khu vực hải phận quốc tế. Dụ hàng bất thành địch tăng cường tàu chiến, máy bay sử dụng pháo bắn về phía tàu 645. Đến khoảng 10 giờ tàu 645 bị trúng loạt pháo của địch, tàu bị gãy cột cờ, nhiều nơi trên tàu bị hư hỏng nặng, hai chiến sĩ San (Thủy Nguyên- Hải Phòng) và Giang ( Hải Hậu – Nam Định) trúng đạn hi sinh.
Bị tàu chiến và máy bay địch vây dát nhưng tàu 645 vẫn tiếp tục hành trình. Các chiến sĩ trên tàu với súng B40, B41, 12 ly 8 vẫn kiên cường đánh trả. Tới khoảng 11 giờ một loạt pháo từ tàu chiến và máy bay địch trúng vào xích lái, tàu không điều khiển được, chạy thành vòng tròn. Trong loạt đạn này 3 chiến sĩ Lân, Chiến và anh Thẻ trúng đạn hy sinh, ông Lăng cũng bị thương nặng.
Con tàu đang ở tình huống nguy kịch, chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu ra lệnh cho thuyền trưởng Lê Hà dẫn các chiến sĩ rời tàu, còn anh sẽ ở lại điểm hỏa kích nổ con tàu. Ông Lăng khi đó bị thương nặng cũng nấn ná, đòi ở lại điểm hỏa với chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu. Sau khi hủy hết tài liệu ông Lăng và chính trị viên Hiệu lên lan can con tàu quan sát các chiến sĩ rời tàu có khoảng cách bao xa. Quay sang nhìn Lăng, anh Hiệu khi đó vừa nói, vừa như ra lệnh: Em còn trẻ, còn cống hiến cho cách mạng dài lâu… Anh đã có vợ con, em chưa có người yêu, hãy sống đến ngày chiến thắng. Thôi, nghe anh! Em nhảy xuống biển bơi cùng đồng đội đi – ông Lăng ngẹn ngào nhớ lại.
Nói nhỏ không được, chính trị viên Hiệu nghiêm giọng: “Đồng chí hãy chấp hành mệnh lệnh!”, rồi bất ngờ anh lao tới đẩy Lăng xuống biển. Đứng nhìn mọi người một lát, anh quay lại tàu hủy nốt những tài liệu cuối cùng, rồi anh phát tín hiệu giả đánh lừa địch. Xong việc, anh bỗng phát hiện tình huống ngoài ý muốn: các chiến sĩ, phần lớn bị thương, phải cụm lại dìu nhau bơi. Con tàu mất lái, chạy vòng tròn, lúc tới gần, lúc ở xa các chiến sĩ đang rời tàu. Nếu kích nổ tàu ở vị trí gần anh em nhất thì tính mạng của đồng đội sẽ lâm nguy! Và khi con tàu ở vị trí xa nhất so với chúng tôi thì một tiếng nổ vang trời, cột nước cao hàng trăm mét, những mảnh vỡ của con tàu bắn văng ra khắp nơi. Tàu 645 được phá hủy thành công, nhưng chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu của chúng tôi đã mãi mãi không trở về - ông Lăng xúc động kể lại.
16 chiến sĩ còn lại của tàu 645 sau đó đều bị địch bắt. Ông Lăng cũng bị bắt, bị giam và tra vấn ở khám Chí Hòa rồi sau đó chuyển ra nhà tù Phú Quốc. Tới ngày 9/3/1973, ông mới được trao trả tự do.
Trở về với cuộc sống đời thường với biết bao khó khăn, thiệt thòi của người lính từng từng bị sa vào tay địch nhưng ông Lăng vẫn luôn lạc quan, tự hào về những năm tháng tham gia tàu không số- nơi ấy ông được chứng kiến sự hy sinh anh dũng của chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu, người dành lấy cái chết về mình để bảo vệ tính mạng cho anh em, một sự hy sinh cao đẹp mà cho tới hôm nay sau 40 năm mỗi khi nhớ lại nước mắt ông lại trào ra vì nhớ thương, vì hãnh diện với những người đồng đội của mình đã đi vào bất tử./.