Chuyến đi “mở hàng” suôn sẻ
Bác Đỗ Xuân Tâm hồi tưởng lại những năm tháng tham gia tàu không số
Vừa pha ấm trè móc câu, vừa nhìn ra biển Đồ Sơn với những con sóng đang xô nhau trườn vào bờ, bác Tâm bắt đầu câu chuyện. Thời gian trôi nhanh quá! Mới đây thôi mà chuyến đi của chúng tôi giờ đã thành lịch sử, với 50 năm kỷ niệm chẵn. Nhâm nhi chén nước chè bác nhớ lại, ngày đó theo tiếng gọi của dân tộc, với tinh thần “ Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” cũng như bao chàng trai, cô gái, Đỗ Xuân Tâm chàng trai trẻ quê vùng biển Đồ Sơn cũng tạm “gác bút, nghiên” cầm súng lên đường tham gia chiến đấu. Năm 1963, sau khi tình nguyện tham gia quân đội, bác được tổ chức cho đi huấn luyên ở căn cứ 2 Hải quân. Từ một chàng trai theo học ngành kiến trúc( trường Trung cấp Kiến Trúc – Hà Nội), bác được chuyển sang học sĩ quan điều khiển máy tàu,và sau đó được điều về Đoàn 125 – bộ tư lệnh Hải quân.
Đến tháng 10 năm 1964, khi vừa tròn 22 tuổi bác Tâm được tham gia chuyến đi đầu tiên trên tàu không số đầu tiên mang số hiệu 55. Thời điểm này, do tuyến đường chưa bị phát hiện, việc đi lại, vận chuyển vũ khí của các tàu còn thuận lợi. Sau 3 ngày 3 đêm xuất phát từ K15( Đồ Sơn) tàu cập bến Vàm Lũng(Cà Mau) toàn bộ vũ khí, quân trang được đưa tới quân giải phóng miền Nam an toàn. Chuyến đi thứ hai của bác trên con tàu mang biệt danh 187 khởi hành vào những ngày cuối năm năm 1964(theo lịch âm) từ K15 mang theo 80 tấn vũ khí chủ yếu là súng AK, súng trường, thuốc nổ cập bến Thạnh Phong (Bến Tre) đúng vào rạng sáng ngày mồng một tết Nguyên đán năm 1965. Chuyến đi diễn ra trong vòng 3 ngày 3 đêm an toàn, toàn bộ số vũ khí được bốc dỡ, giao lại an toàn cho quân giải phóng. 16 chiến sĩ trên chuyến tàu 187 đa phần là lính trẻ, có nhiều người cũng chỉ vừa rời ghế nhà trường lần đầu được ăn tết với bà con, nhân dân Nam Bộ tỏ ra rất vui sướng. Nhưng, khi không khí tết vẫn còn dang dở, tàu được lệnh rút ra ngoài Bắc để chuẩn bị chuyến đi mới. Trên đường về tàu chúng tôi bị máy bay địch phát hiện và bám theo. Chính trị viên Huỳnh Ngọc Trạch khi đó ra lệnh cho chiến sĩ trên tàu mang thúng mủng, lứơi lên bong tàu ngồi vá, đồng thời kéo cờ nước ngoài và sau đó đã đánh lừa được máy bay địch.
3 ngày bên vợ, 10 năm xa cách
Trở ra Bắc, bác Tâm khi đó vừa bước sang tuổi 23, được đơn vị cho nghỉ phép 7 ngày làm lễ cưới. Đám cưới trong thời kỳ kháng chiến chỉ có chè xanh, thuốc lá, bánh kẹo với lời ca tiếng hát, chứ làm gì có “ mâm cao, cỗ đầy”. Quà cưới cũng chỉ có đôi khăn mặt, sang thì chiếc thau men, nghĩ lại thấy thật hạnh phúc. Nhưng, tuần trăng mật đôi vợ chồng trẻ cũng chưa được hưởng trọn vẹn, 3 ngày sau lễ cưới bác được lệnh về đơn vị gấp để nhận nhiệm vụ- bác Tâm nhớ lại.
Chuyến đi lần thứ 3 đối với bác đó thực sự là chuyến đi định mệnh. Sau sự kiện vũng Rô( Phú Yên) tháng 4/1966, tuyến đường vận tải trên biển bị đế quốc Mỹ pháp hiện và kiểm sóat nghiêm ngặt. Mỹ thiết lập đội tuần tra đặc biệt ở vùng cận hải, huy động tàu của hạm đội 7 cùng tham gia kiểm sóat. Ngày đó chúng tuyên bố “ một con chim sẻ bay trên hải phận miền Nam Việt Nam chúng cũng có thể kiểm sóat được”. Với quyết tâm không để đồng bào, chiến sĩ miền Nam thiếu vũ khí chiến đấu, chiến thắng kẻ thù, tàu 187 của chúng tôi được lệnh xuất kích vào Vàm Ba Động( Trà Vinh) mang theo 80 tấn vũ khí, đạn dược. Chuyến đi lần này mọi số hiệu, địa chỉ, bao bì thuốc lá, gói chè, vật dụng trên tàu…đều bị xóa mãn mác. Biết trước những khó khăn, gian khổ sắp tới trong chuyến đi tàu được bổ sung thêm một cố vấn chính trị viên và 1 cố vấn thuyền trưởng. Thậm chí, anh em trên tàu ai cũng được trang bị một túi nilon và nẹp sẵn sàng hủy táng, cho tàu nổ khi bị phát hiện.
Xuất phát từ cửa Đông của vịnh Hạ Long, tàu 187 chọn phương pháp đi vào vũng lãnh hải quốc tế để tránh bị không quân và hải quân Mỹ phát hiện. Sau 7 ngày 7 đêm lênh đênh trên biển, tàu tới gần khu vực Côn Đảo vào ngày 20/6/1966. Nhưng, khi đó mới 4 giờ chiều nên tàu dừng máy thả trôi, chờ khi trời tối hẳn mới cập bến. Đúng lúc đó, trên trời xuất hiện một máy bay tuần tra bay sát xuống cabin chụp ảnh tàu. Với những “bài” vá mủng, vá lưới như những lần trước máy bay địch sau khi lượn vài vòng cũng bỏ đi. Đánh lừa được máy bay địch, chiến sĩ trên tàu ai cũng chửi thề “máy bay Mỹ mù”, nhưng sau này theo mật thám ta cho biết không phải vậy?. (Tàu 187 bị phát hiện cách đó 5 ngày,và địch tuyên bố phải bắt sống tàu. Lần máy bay chụp ảnh tàu là để xác minh chính xác thông tin mà tình báo địch biết được). Đến khoảng 3 giờ sáng tàu chỉ còn cách Vàm Ba Động 1,5 hải lý, chiến sĩ trên tàu ai cũng hồi hộp, chắc thắng!. Đúng lúc đó, trên bầu trời xuất hiện hàng loạt máy bay Mỹ, chúng liên tục thả pháo sáng, con tàu 187 lúc đó lộ nguyên hình. Qua làn pháo sáng nhìn về phía sau tàu xuất hiện hàng chục tàu chiến Mỹ đang lao vào nhả đạn pháo về phía tàu 187. Bị bất ngờ các chiến sĩ trên tàu chỉ kịp bắn đạn ĐKZ về phía tàu địch, nhưng hỏa lực của địch rất mạnh quân ta không thể chống đỡ nổi. Đi trong đêm tối vô tình tàu bị mắc vào cồn cát, lúc này thuyền trưởng Phan Văn Xả cùng máy trưởng Vũ Xuân An ra lệnh cho anh em rời tàu và kích thuốc nổ hủy tàu. Tuy nhiên, sau khi bơi vào bờ tàu 187 vẫn không nổ mà chỉ bốc khói. Với quyết tâm không cho quân Mỹ thu được vũ khí, các chiến sĩ đoàn 962 đang chờ tàu 187 vào để nhận vũ khí, đã bắn 12 phát đạn ĐKZ vào tàu 187 nhưng tàu vẫn ngoan cố không nổ! Lúc này máy bay Mỹ bay đặc khu vực Vàm Ba Động, ra sức bắn phá khu vực này. Ngoài ra, chúng còn huy động 15 tiểu đoàn lính đánh thuê đổ bộ chiếm giữ cửa sông Ba Động. Tàu 187 và toàn bộ số vũ khí trên tàu rơi vào tay quân đội Mỹ. Trong số 18 chiến sĩ trên chuyến tàu 187, một chiến sĩ hy sinh, một người bị thương nặng và bị địch bắt. Sau khi phát hiện ra căn cứ Vàm Ba Động của ta, quân Mỹ- Ngụy ngày nào bắn phá, ném bom nhằm hủy diệt khu vực này.
Các chiến sĩ trên tàu 187 với sự bao bọc của đồng bào sau 3 tháng “nếm mật, nằm gai” được lệnh hành quân xuống Năm Căn ( Cà Mau) sau đó theo tàu ra Bắc. Tuy nhiên, đoàn tàu 165 có nhiệm vụ vào đón chiến sĩ tàu 187 bị phát hiện và bị tiêu diệt khi chỉ còn cách khu vực tập kết 10 hải lý. Sau đó, các chiến sĩ nhận được lệnh của Bộ tổng tham mưu nằm lại miền Nam tiếp tục chiến đấu. Năm 1967, bác Tâm được điều về làm máy trưởng tàu 69( tàu 69 chở hàng vào Vàm Lũy năm 1966 khi ra bị địch phát hiện phải quay lại bến Vàm Lũng) bảo quản máy móc, sẵn sàng lên đường ra Bắc khi có cơ hội. Nhưng, chiến tranh được mở rộng, quân đội Mỹ liên tục mở các chiến dịch càn quét ở khu vực Tây Nam Bộ, tàu 69 vẫn phải nằm chờ cơ hội xuất bến. Trong lúc nằm chờ tàu 69 đã đặt sẵn 500 kg thuốc nổ sẵn sàng kích nổ khi bị phát hiện, tàu 69 lúc đó được mệnh danh là “ quan tài thép – bất khả xâm phạm”.
Đến năm 1973, khi tình hình thay đổi bác Tâm được điều về trường 373 của quân khu 9 và đoàn 962 thành lập với nhiệm vụ đào tạo cán bộ chiến sĩ quân giải phóng về kỹ thuật hàng hải. Và sau này chính những học viên của trường của trường là lực lượng nòng cốt cho việc tiếp quản căn cứ hải quân do Mỹ, Ngụy để lại tại khu vực miền Tây. Đến ngày 3/5/1975 sau khi về tiếp quản bến Ninh Kiều, cảng Bình Thủy( Cần Thơ), sau gần 10 năm bác mới có cơ hội biên thư về cho gia đình và nguời vợ trẻ ở Đồ Sơn đang từng ngày chông ngóng chồng. Và cũng tại Cần Thơ, tháng 6 năm đó bác được gặp lại người vợ sau gần 10 năm xa cách( bác gái được đi cùng với Bộ tư lệnh Hải quân và lãnh đạo đoàn 125 vào thăm). Sau 10 năm xa cách, người con gái miền đất biển Đồ Sơn vẫn chung thủy thờ chồng, chờ ngày đất nước thống nhất để gặp lại người chồng sau 10 năm xa cách. Nhớ lại lần gặp nhau cách đây hơn 30 năm bác Tâm cho biết, “ lúc đó nhà tôi cứ đứng trơ người ra. Câu đầu tiên bác hỏi vợ sau 10 năm xa cách. Tại sao em không khóc? Vợ bác nói, vì chúng mình đều là đảng viên, tất cả đều hy sinh cho Đảng, hôm nay sự mong mỏi, chờ đợi được đền đáp, còn nước mắt chảy hết vào tim em rồi”. Chuyến đi lầ thứ 3 của bác kéo dài gần 10 năm( từ năm 1966 đến 1975).
Trở về sau quân ngũ, với cuộc sống đời thường, bác Tâm cũng đã lăn lộn với biết bao nghề để mưu sinh với cuộc sống, và không chịu bó tay với cái đói cái nghèo. Với quán hàng ăn nhỏ nhỏ, xinh xinh trên bãi biển Đồ Sơn ngày ngày bác cùng với người vợ của mình vẫn cần mẫn lao động, sống cuộc sống hạnh phúc bên nhau. Để rồi , mỗi lúc rảnh rỗi nhìn ra biển Đồ Sơn kí ức về những năm tháng hành trình trên những chuyến tàu không số lại ùa về trong người lính già năm xưa./.